Dự án 36.125 tỷ: Không chỉ là mở rộng mặt đường
Dự án mở rộng cao tốc TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận là chương trình nâng cấp toàn tuyến cao tốc dài hơn 96 km, tăng số làn xe và cải thiện hạ tầng nhằm giải quyết tình trạng quá tải, kết nối thông suốt TP.HCM với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, với tổng mức đầu tư lên tới 36.125 tỷ đồng.
Điểm cần nhấn mạnh: đây không phải công trình “trải thêm lớp nhựa” rồi xong. Tuyến dài 96,13 km đi qua TP.HCM, Tây Ninh và Đồng Tháp, với 66 cầu, 149 cống và 8 hầm chui dân sinh. Đoạn TP.HCM - Trung Lương được mở rộng lên 8 làn, tốc độ thiết kế 120 km/h; đoạn Trung Lương - Mỹ Thuận và nhánh nối đến đầu cầu phía Bắc cầu Mỹ Thuận 2 nâng lên 6 làn, tốc độ 100 km/h. Nói cách khác, đây là ca “đại phẫu” cho trục huyết mạch của miền Tây, chứ không chỉ là ca chỉnh hình nhẹ.
Dự án được khởi công theo phương thức đối tác công tư, vốn đầu tư 36.125 tỷ đồng, không dùng ngân sách nhà nước. Liên danh nhà đầu tư do Tập đoàn Đèo Cả đứng đầu, thông qua Công ty TNHH Cao tốc Sài Gòn - Mỹ Thuận làm doanh nghiệp dự án. Mốc hoàn thành chính thức là tháng 12/2028, nhưng ban quản lý đang đặt mục tiêu rút ngắn 6 tháng, phấn đấu về đích trước 30/6/2028. Với quy mô này, bất kỳ trục trặc nào ở khâu giải phóng mặt bằng cũng đủ làm “xô” toàn bộ lịch thi công.

Nguồn lực đang tăng tốc, nhưng máy móc phải… chờ mặt bằng
Trên giấy tờ, dự án mở rộng cao tốc TP.HCM đang ở trạng thái “tăng tốc”: hơn 1.021 nhân sự, gần 400 máy móc, 35 dây chuyền CDM và 34 dây chuyền CKN đã được huy động, triển khai 67 mũi thi công gồm 35 mũi đường và 32 mũi cầu. Sau thời gian ngắn, sản lượng đạt khoảng 1.600 tỷ đồng. Đây là con số cho thấy nhà đầu tư không thiếu tiền, không thiếu người, không thiếu thiết bị. Vấn đề là họ thiếu… đất để làm.
Sau gần 9 tháng khởi công, nhiều gói thầu chỉ thi công cầm chừng vì chưa có mặt bằng sạch. Ngay tại nút giao Chợ Đệm – cửa ngõ TP.HCM – nhà thầu Khải Thành huy động hơn 50 nhân sự, nhiều máy móc nhưng chỉ “loay hoay” trong dải mặt bằng hẹp còn lại từ giai đoạn 1. Tiến độ dự án vì thế bị khóa chặt trong thế “chạy tại chỗ”: máy vẫn nổ, người vẫn làm, nhưng chuỗi công việc liên tục bị đứt đoạn.
Điều trớ trêu là với tổng mức đầu tư 36.125 tỷ đồng, phần đã làm chỉ mới là phần nổi rất nhỏ của tảng băng. Nói cách khác, dự án đang đốt chi phí tổ chức thi công trên một mặt bằng rời rạc, trong khi lẽ ra nguồn lực khổng lồ ấy phải được trải đều trên cả tuyến. Nếu giải phóng mặt bằng không theo kịp, mọi nỗ lực tăng tốc thi công chỉ là “đạp ga trong khi vẫn kéo phanh tay”.

Mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật: Nút thắt ở cửa ngõ TP.HCM
Tổng diện tích cần giải phóng mặt bằng của dự án là 87,76 ha, trong đó 20,15 ha được xác định phải ưu tiên vì ảnh hưởng trực tiếp đến tuyến chính và các nút giao. Nhưng chính ở khu ưu tiên này, nút nghẽn lại dày đặc nhất. Đoạn Km9–Km11+140 gần nút giao Chợ Đệm vẫn còn hàng loạt hạ tầng kỹ thuật chưa di dời: điện trung thế, ống nước, cáp viễn thông, biển báo, biển quảng cáo, cùng các đường gom dân sinh nằm trong phạm vi mở rộng.
Các tuyến điện hạ thế dọc tuyến dù đã được khảo sát vẫn chưa thể di dời do thủ tục giữa đơn vị quản lý điện và địa phương chưa hoàn tất. Nói cách khác, hạ tầng kỹ thuật cũ đang “giữ chỗ”, khiến hạ tầng mới không thể vươn ra. Nhà thầu không thể đồng loạt triển khai các hạng mục quan trọng như cầu, xử lý nền đất yếu, mở rộng nền đường. Đây không còn là vấn đề kỹ thuật, mà là vấn đề điều phối thể chế: nếu mỗi bên chậm một nhịp, dự án phải chờ cả chuỗi.
Người dân trong vùng dự án cũng trong trạng thái “đứng giữa hai làn”: cán bộ đã kiểm đếm, thu thập thông tin, nhưng phương án bồi thường chưa công bố nên họ chưa thể chủ động di dời. Trong khi đó, các nhà thầu buộc phải bỏ tiền thuê tạm đất của dân để làm đường công vụ, tự di dời một số hạ tầng đơn giản và tổ chức phân luồng dưới gầm cầu cạn hiện hữu. Những giải pháp tạm bợ ấy giúp công trường “thở”, nhưng không thể thay thế một quy trình giải phóng mặt bằng bài bản.

Tập đoàn Đèo Cả và bài toán nền đất yếu, nhưng nút thắt vẫn là thể chế
Về chuyên môn, liên danh do Tập đoàn Đèo Cả dẫn dắt đang cố gắng đi trước một bước trong xử lý nền đất yếu – điểm yếu cố hữu của Đồng bằng sông Cửu Long. Thay vì gia tải kết hợp bấc thấm PVD, dự án sử dụng cọc đất gia cố xi măng (CDM) với mục tiêu kiểm soát độ lún giữa phần đường mở rộng và tuyến hiện hữu, rút ngắn thời gian xử lý nền và giảm nhu cầu cát đắp. Đây là hướng tiếp cận cho thấy nhà đầu tư không ngại chi cho giải pháp kỹ thuật dài hạn.
Nhưng mọi lợi thế công nghệ đều có nguy cơ bị “bóp nghẹt” nếu chuỗi thi công bị cắt khúc vì thiếu mặt bằng. “Tiến độ dự án huyết mạch nối TP.HCM với miền Tây đang phụ thuộc rất lớn vào công tác GPMB của địa phương”. Nói thẳng: năng lực thi công chỉ là điều kiện cần, còn mặt bằng liên tục mới là điều kiện đủ để dự án 36.125 tỷ thể hiện đúng sức mạnh. Nếu đến các mốc quan trọng mà mặt bằng vẫn không tiến, nhà thầu sẽ phải dừng máy, và khi đó chi phí lãi vay, nhân công chờ việc sẽ đội lên khó kiểm soát.
Cách xử lý hiện nay – nhà thầu tự bỏ chi phí mở đường tạm, tự xoay xở với hạ tầng đơn giản – là dấu hiệu cho thấy hệ thống đang đẩy rủi ro về phía doanh nghiệp. Đổi lại, địa phương chậm ban hành đơn giá đất, chậm lựa chọn đơn vị di dời hạ tầng nhưng ít chịu áp lực về tiến độ. Khi lợi ích và trách nhiệm không gắn chặt, tiến độ dự án sẽ luôn bị đe dọa bởi các “nút thắt mềm” – những thủ tục trên giấy nhưng hậu quả rất thật ngoài công trường.

Muốn kịp tiến độ, phải coi giải phóng mặt bằng như một gói thầu trọng điểm
Dự án mở rộng cao tốc TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận có tiềm năng “giải cứu” ùn tắc cửa ngõ miền Tây, giảm thời gian và chi phí đi lại cho hàng triệu người dân và doanh nghiệp. Ai sống ở khu vực này đều hiểu: mỗi ngày cao tốc chậm hoàn thành là thêm một ngày kẹt xe, thêm một lần lỡ chuyến hàng, thêm một bài toán chi phí logistics khó giải. Người dân trong vùng dự án vẫn sẵn sàng nhường đất, như chia sẻ của bà con ở xã Tân Nhựt, chỉ cần biết rõ phương án bồi thường để chủ động cuộc sống.
Trong bối cảnh đó, giải phóng mặt bằng phải được coi là một “gói thầu” có tiến độ, mốc kiểm soát và chế tài rõ ràng, không kém gì gói xây lắp. Khi 87,76 ha cần thu hồi đã được xác định, việc chậm phê duyệt đơn giá đất hay chậm lựa chọn đơn vị di dời hạ tầng kỹ thuật không thể coi là “chuyện nhỏ”. Nếu các điểm nghẽn về mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật được tháo gỡ, hệ thống 67 mũi thi công với hàng nghìn nhân sự và hàng trăm thiết bị mới phát huy hết tác dụng.
Tiến độ dự án hiện được kỳ vọng rút ngắn về trước 30/6/2028. Nhưng mốc thời gian này sẽ chỉ là lời hứa nếu không có một cơ chế buộc mọi bên liên quan – từ chính quyền địa phương đến các đơn vị quản lý hạ tầng – phải chạy cùng tốc độ với nhà thầu. Câu trả lời cuối cùng khá rõ: số phận của dự án 36.125 tỷ đồng không nằm ở sức mạnh của máy móc, mà nằm ở cách chúng ta giải được bài toán mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật ngay hôm nay.






