Bình dân học vụ số: Khi chuyển đổi số vùng khó bắt đầu từ người dân
Bình dân học vụ số là mô hình do thanh niên vùng biên khởi xướng, dựa trên việc trực tiếp kèm cặp, hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh, ứng dụng số và dịch vụ công trực tuyến, để họ từng bước hình thành kỹ năng số cộng đồng, làm chủ công nghệ phục vụ đời sống, sản xuất và quan hệ với chính quyền, thay vì chỉ phụ thuộc vào cán bộ hay con cái trong gia đình. Trong câu chuyện chuyển đổi số vùng khó, đây không phải hoạt động phụ trợ mà là hạ tầng mềm quyết định việc công nghệ đi vào thói quen hằng ngày. Nói cách khác, nếu trạm BTS, 5G hay cổng dịch vụ công trực tuyến là phần cứng của chuyển đổi số, thì các đội hình áo xanh chính là bộ vi xử lý xã hội giúp dữ liệu và lợi ích đến được với từng hộ dân.
Điện Biên là nơi cho thấy rõ nhất sức nặng của chiến lược này. Tỉnh đoàn duy trì 68 đội hình “Bình dân học vụ số” với 6.265 lượt đoàn viên hỗ trợ hơn 18.150 lượt người nâng cao năng lực số. Con số không chỉ đẹp ở bảng báo cáo, nó phản ánh một cách thức làm khác: thay vì tổ chức vài lớp tập huấn nặng lý thuyết tại trung tâm huyện, thanh niên đi thẳng vào bản, vào tổ dân phố. Kiểu chuyển đổi số “từ trung tâm ra biên” nhường chỗ cho một quy trình ngược: từ người dân vùng biên, công nghệ mới được kiểm chứng là hữu ích hay không.

Điện Biên: Từ hạ tầng số bứt phá đến thói quen công nghệ của người dân
Không nhiều địa phương miền núi có bức tranh hạ tầng số ấn tượng như Điện Biên: hơn 92.500 tài khoản Điện Biên Smart, 1.239 trạm BTS, 242 trạm 5G và doanh thu viễn thông – công nghệ số tăng gần 108% trong quý I. Nhưng điều đáng bàn hơn là cách tỉnh từ chối tư duy “xây xong hệ thống là xong việc”. Việc mạnh dạn dùng duy nhất tài khoản VNeID trong giải quyết thủ tục hành chính, đóng cổng dịch vụ công cấp tỉnh để đồng bộ với hệ thống quốc gia là lựa chọn dám chịu trách nhiệm, buộc cả chính quyền và người dân phải bước lên một chuẩn mới về giao dịch số.
Trong khuôn khổ đó, mô hình “cầm tay chỉ việc” của thanh niên trở thành mắt xích sống còn. Họ không dừng ở việc nhập liệu hộ dân, mà kiên nhẫn hướng dẫn từng thao tác cơ bản, từ cài đặt VNeID, nộp hồ sơ dịch vụ công trực tuyến, tích hợp giấy tờ, đến nộp thuế và thanh toán điện tử. Ở người cao tuổi, một cú chạm màn hình là rào cản tâm lý lớn; việc được hướng dẫn nhiều lần giúp họ chuyển từ tâm thế “sợ công nghệ” sang “dám tự mình làm”. Kết quả là 98,12% phiếu lý lịch tư pháp cấp qua VNeID, 64,36% người dân sở hữu sổ sức khỏe điện tử, đưa Điện Biên dẫn đầu cả nước về chỉ số này. Đây không chỉ là thành tích của hệ thống, mà là bằng chứng rằng thanh niên vùng biên có thể làm cầu nối công nghệ số hiệu quả hơn mọi chiến dịch truyền thông đại trà.
Quảng Trị và Sơn La: “Đi từng ngõ, gõ từng nhà” để gieo thói quen số
Ở Tuyên Lâm (Quảng Trị), khẩu hiệu “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rõ từng người” không dừng ở một khẩu hiệu phong trào; nó là phương pháp làm việc cụ thể: đoàn viên tới tận nhà, ngồi cạnh người dân, làm mẫu, để họ thao tác lại và được sửa từng bước chậm, dễ hiểu. Khi thanh thiếu nhi vùng biên được trải nghiệm Robotics, AI, STEM/STEAM trong các Ngày hội Bình dân học vụ số, thông điệp gửi đi rất rõ: chuyển đổi số vùng khó không chỉ là chuyện của thủ tục hành chính, mà là câu chuyện về tương lai nghề nghiệp và năng lực cạnh tranh của thế hệ trẻ. Những hoạt động đó tạo một dòng chảy số mới ngay nơi phên dậu, thay đổi nhận thức rằng vùng biên chỉ là nơi nhận hỗ trợ, chứ không thể sản sinh các sáng kiến công nghệ.
Tại Lóng Phiêng (Sơn La), Bình dân học vụ số vùng biên cương được đặt trong khuôn khổ “Dân vận khéo” – một cách gọi rất đúng bản chất: vận động nhân dân gắn công nghệ vào đúng việc họ đang làm và đang cần. Buổi tối, nhà văn hóa bản Yên Thi sáng đèn, người dân mang theo điện thoại thông minh, học từ cách khai sinh cho con trên dịch vụ công trực tuyến đến tích hợp an sinh xã hội trên VNeID. Cán bộ xã cùng đoàn viên thanh niên “ngồi cạnh từng người”, để người dân tự thao tác, làm đến đâu hướng dẫn đến đó, chưa được thì làm lại. Khi ông Giàng Định Phố chia sẻ rằng nhờ tích hợp giấy tờ trên VNeID, đi khám bệnh hay làm thủ tục thuận tiện hơn nhiều, đó là minh chứng rõ ràng: kỹ năng số cộng đồng chỉ có ý nghĩa khi gắn với lợi ích rất cụ thể của từng gia đình.

Từ kỹ năng số cộng đồng đến tự chủ tài chính vùng biên
Điểm thuyết phục nhất của các mô hình Bình dân học vụ số không nằm ở việc người dân biết thêm vài ứng dụng, mà ở cách nó mở ra năng lực tự chủ kinh tế và tài chính cho vùng biên. Tại Lóng Phiêng, nội dung hướng dẫn được thiết kế riêng cho các hộ sản xuất, kinh doanh: cách quảng bá sản phẩm, kết nối khách hàng, mở rộng phương thức tiêu thụ nông sản trên môi trường mạng. Đối với cán bộ, đảng viên, đó là việc sử dụng sổ tay điện tử; với người lao động, là thanh toán không dùng tiền mặt và nhận diện các thủ đoạn lừa đảo trực tuyến. Họ không chỉ học công nghệ để điền biểu mẫu, mà để bảo vệ túi tiền gia đình, tăng khả năng tiếp cận thị trường và dịch vụ an sinh.
Ở Điện Biên, sau một năm triển khai phong trào, 100% học sinh phổ thông – hơn 208.300 em – đã được tiếp cận kiến thức về an toàn thông tin và kỹ năng số; 75% người trưởng thành có kỹ năng số cơ bản và gần 190.000 người được VNeID xác nhận đạt phổ cập tri thức chuyển đổi số. Đáng chú ý, các lớp tập huấn về AI đã phủ sóng 100% xã, phường, trang bị kiến thức cho hơn 3.000 cán bộ cơ sở và thành viên Tổ Công nghệ số cộng đồng. Khi thế hệ trẻ vùng biên đồng thời là nông dân, công nhân, cán bộ và “gia sư số” trong mỗi nhà, họ không chỉ giúp cộng đồng truy cập dịch vụ công trực tuyến mà còn định hình một chuẩn mực mới về năng lực số làm nền cho độc lập tài chính.

Chuyển đổi số vùng khó: Không thể chỉ trông vào cột sóng và phần mềm
Các địa bàn miền núi, vùng biên luôn là bài kiểm tra khó nhất của bất kỳ chương trình chuyển đổi số. Địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chênh lệch về trình độ học vấn khiến mọi kế hoạch triển khai hệ thống dễ sa vào tình trạng “hạ tầng thì có, người dùng thì ít”. Điều các mô hình Bình dân học vụ số ở Điện Biên, Quảng Trị, Sơn La chỉ ra là: nếu thiếu những con người bằng xương bằng thịt kiên trì hướng dẫn mỗi ngày, khoảng cách số sẽ không thể tự thu hẹp. Thanh niên vùng biên, với hiểu biết địa bàn và khả năng thích ứng công nghệ, đang chứng minh rằng chuyển đổi số vùng khó phải là chiến dịch xã hội, không chỉ là dự án kỹ thuật.
Tổ triển khai mô hình ở Lóng Phiêng có 15 thành viên, nòng cốt là Ban xây dựng Đảng, biên phòng, công an, đoàn viên thanh niên; đến nay họ đã tổ chức tại 4 bản, với khoảng 350 người được tiếp cận kỹ năng số. Xã đặt mục tiêu đến tháng 12, mô hình phủ 100% bản. Câu chuyện ấy, cộng với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rõ từng người” ở Tuyên Lâm, gửi đi một thông điệp rõ ràng: nếu coi công cuộc số hóa là việc của riêng ngành thông tin – truyền thông, chúng ta sẽ bỏ lỡ nguồn lực lớn nhất là thanh niên cơ sở. Khi họ được trao vai trò cầu nối, chuyển đổi số không còn là kế hoạch trên giấy, mà trở thành thói quen sống, làm ăn và tương tác với Nhà nước của mỗi hộ dân vùng biên.






