Quyết định 813/QĐ-BHXH: Tuyên bố bước ngoặt chuyển đổi số
Chuyển đổi số BHXH là quá trình dùng khoa học, công nghệ và dữ liệu số để thay đổi cách quản lý, cung cấp dịch vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, giúp thủ tục hành chính đơn giản hơn, giảm giấy tờ, nâng cao trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp trong toàn bộ vòng đời tham gia và thụ hưởng chính sách. Ngày 25/9/2026, BHXH Việt Nam ban hành Quyết định số 813/QĐ-BHXH về Kế hoạch thực hiện đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 giai đoạn 2026-2030. Việc thay thế Quyết định 3023 trước đó không chỉ là cập nhật kỹ thuật, mà là tuyên bố một giai đoạn tăng tốc, nơi hành chính dựa trên dữ liệu trở thành định hướng chính, còn công nghệ BHXH Việt Nam là công cụ để tái thiết cách quản lý chính sách. Điểm tích cực là Kế hoạch không khởi động lại từ đầu mà kế thừa các nhiệm vụ đã hoàn thành, đồng thời cập nhật những nhiệm vụ đang triển khai hoặc thường xuyên cho phù hợp yêu cầu mới. Điều này cho thấy tư duy liên tục, tránh lãng phí nguồn lực đã đầu tư. Vấn đề đặt ra không phải "có chuyển đổi số hay không" mà là BHXH có dám chuyển hẳn từ tư duy giấy tờ sang tư duy dữ liệu, chấp nhận đo lường hiệu quả bằng các chỉ số cụ thể thay vì các báo cáo định tính.
Hành chính dựa trên dữ liệu: Từ khẩu hiệu đến các con số cam kết
Nếu trước đây chuyển đổi số BHXH dễ bị xem như khẩu hiệu, thì Kế hoạch mới đã "đóng đinh" bằng những con số rõ ràng. Trong năm 2026, BHXH Việt Nam phấn đấu tối thiểu 50% dịch vụ công, thủ tục hành chính hoàn thành việc chuẩn hóa trường thông tin theo Hệ thống từ điển dữ liệu dùng chung, tối thiểu 50% được cắt giảm hồ sơ, giấy tờ khi dữ liệu đã tích hợp trên VNeID. Đây là bước quan trọng để hành chính dựa trên dữ liệu trở thành thực tế, vì nếu dữ liệu không chuẩn hóa, mọi lời hứa tái sử dụng thông tin chỉ dừng ở mức mong muốn. Đến năm 2030, mục tiêu nâng lên 80% dịch vụ công, thủ tục hành chính được chuẩn hóa và 80% cắt giảm thành phần hồ sơ trên cơ sở tái sử dụng dữ liệu, tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến đạt tối thiểu 90%, thanh toán trực tuyến đạt tối thiểu 80%. Với hệ thống mục tiêu này, Kế hoạch tạo cơ sở để BHXH tiếp tục chuyển mạnh phương thức quản lý sang dựa trên dữ liệu, tăng khả năng kết nối, tái sử dụng thông tin, mở rộng dịch vụ số. Nếu hoàn thành, người dân sẽ cảm nhận thay đổi không phải qua thông điệp truyền thông, mà qua thời gian xử lý hồ sơ rút ngắn và số lần phải nộp lại thông tin giảm hẳn.

Lấy người dùng làm trung tâm: Tiêu chuẩn dịch vụ công kiểu mới
Điểm đáng chú ý nhất của Kế hoạch là đặt người dân, doanh nghiệp ở trung tâm chuyển đổi số, chứ không phải hệ thống nội bộ. BHXH Việt Nam xác định đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính, thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao mức độ hài lòng, trải nghiệm của người tham gia, thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT, BHTN. Theo định hướng này, người dân và doanh nghiệp sẽ từng bước giảm việc phải cung cấp lại những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước. Đây là thay đổi mang tính văn hóa: từ "hành dân" bằng yêu cầu giấy tờ lặp lại, sang "phục vụ" bằng việc tái sử dụng dữ liệu. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến đạt tối thiểu 80% trong năm 2026, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về dịch vụ công đạt 95%, 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện thực hiện theo hướng không phụ thuộc địa giới hành chính, tỷ lệ thanh toán trực tuyến tối thiểu 60%. Những con số này là thước đo cụ thể cho lời hứa "lấy người dùng làm trung tâm". Dịch vụ công trực tuyến toàn trình được phát triển theo hướng đơn giản, thuận tiện hơn cho người sử dụng – và nếu cộng đồng thấy khó dùng, các chỉ số hài lòng sẽ phơi bày ngay khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế.
An toàn thông tin bảo hiểm: Mặt trận không thể coi nhẹ
Khi hành chính dựa trên dữ liệu trở thành trụ cột, an toàn thông tin bảo hiểm đương nhiên là mặt trận sống còn. Kế hoạch nêu rõ yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và khả năng hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin. Đi cùng quá trình mở rộng dữ liệu và dịch vụ số là yêu cầu tăng cường an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nói thẳng, nếu dữ liệu bảo hiểm, dữ liệu dân cư bị lộ hoặc bị gián đoạn, niềm tin vào chuyển đổi số BHXH sẽ sụp đổ nhanh hơn bất kỳ lỗi giao diện nào. Kế hoạch yêu cầu thực hiện đầy đủ các quy định bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ; tăng cường giám sát, phát hiện, cảnh báo và ứng cứu sự cố an toàn thông tin, an ninh mạng; bảo vệ dữ liệu trong toàn bộ vòng đời từ thu thập, tạo lập, lưu trữ, xử lý, chia sẻ đến hủy dữ liệu. Công tác giám sát, phát hiện, cảnh báo, ứng cứu sự cố an toàn thông tin, an ninh mạng được tiếp tục tăng cường. Điều này cho thấy BHXH đã nhận ra rằng chuyển đổi số không chỉ là dựng thêm cổng dịch vụ công, mà là xây cả "hệ miễn dịch" cho hệ thống dữ liệu đang ngày càng dày đặc và nhạy cảm.
Đề án 06 và công nghệ mới: Bước đi dữ liệu hóa toàn diện
Triển khai Đề án 06 BHXH là mảnh ghép quan trọng để chuyển đổi số không bị cắt khúc. Ngày 25/9/2026, Quyết định 813/QĐ-BHXH đã tích hợp Đề án 06 vào Kế hoạch đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030. Trong triển khai Đề án 06, hệ thống định danh điện tử tiếp tục được kết nối với các phần mềm của BHXH, sẵn sàng phục vụ chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp thất nghiệp theo tiến độ. Đây là bước dữ liệu hóa toàn diện: từ khâu xác thực danh tính đến khâu chi trả, dữ liệu phải liền mạch. Một điểm đáng chú ý là yêu cầu nghiên cứu, thử nghiệm, từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, sinh trắc học và các công nghệ mới trong hoạt động nghiệp vụ, quản trị, phân tích dữ liệu, dự báo, cảnh báo rủi ro và cung cấp dịch vụ. Điều này cho thấy công nghệ BHXH Việt Nam không dừng ở việc số hóa quy trình hiện có, mà hướng tới dự báo và cảnh báo rủi ro chủ động. Tỷ lệ cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi BHXH được xây dựng, tạo lập, tích hợp, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc Trung tâm dữ liệu quốc gia phấn đấu đạt tối thiểu 70% trong năm 2026, sau đó nâng lên 100% vào năm 2030. Nói cách khác, nếu hoàn thành, hệ thống bảo hiểm sẽ vận hành trên một "bản đồ dữ liệu" thống nhất, thay vì những "ốc đảo" thông tin rời rạc như trước.






