Hợp nhất Luật Ngân sách và Luật Đầu tư công là gì, và vì sao đây là thời điểm quyết định?
Hợp nhất Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Đầu tư công là quá trình xây dựng một đạo luật chung nhằm tích hợp toàn bộ quy định về lập kế hoạch tài chính, phân bổ ngân sách và quyết định đầu tư công trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ, giúp giảm trùng lặp thủ tục và tăng hiệu quả quản lý tài chính công. Sáng 19/8, tại đợt 2 Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất của Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng đã trình Tờ trình định hướng xây dựng Luật Ngân sách Nhà nước hợp nhất, kết nối Luật Ngân sách hiện hành với Luật Đầu tư công. Dự kiến dự án luật gồm 10 chương và 102 điều, cho thấy đây không phải chỉnh sửa kỹ thuật nhỏ mà là một cuộc cải cách ngân sách nhà nước quy mô lớn, chạm tới toàn bộ quy trình quản lý tài chính công từ trung ương tới địa phương.

Mục tiêu cốt lõi: Thống nhất quản lý tài chính công để giảm lãng phí nguồn lực
Vấn đề lớn nhất của quản lý tài chính công nhiều năm qua là ngân sách và đầu tư công bị tách thành hai quy trình, hai luật, hai tập thủ tục khác nhau. Hợp nhất luật ngân sách với luật đầu tư công hướng tới xây dựng một cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, thống nhất, nơi mọi quyết định chi tiêu và đầu tư đều nằm trong cùng một bức tranh kế hoạch tài chính 5 năm. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, việc hợp nhất hai luật nhằm cắt giảm tối đa trình tự, thủ tục trùng lặp, rút ngắn thời gian và giảm chi phí tuân thủ, đồng thời huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực ngân sách nhà nước phục vụ tăng trưởng nhanh, bền vững. Nói cách khác, đây là một bước cải cách ngân sách nhà nước mang tính cấu trúc: thay vì mỗi khâu “giữ một luật”, cả dòng tiền công sẽ được nhìn và quản lý như một hệ thống duy nhất.
Hợp nhất kế hoạch tài chính và đầu tư công: Lợi ích cho phân bổ nguồn lực
Điểm then chốt của dự án luật là đưa kế hoạch đầu tư công vào chung với kế hoạch tài chính. Dự thảo hợp nhất Kế hoạch đầu tư công trung hạn vào Kế hoạch tài chính 5 năm, và hợp nhất Kế hoạch đầu tư công hằng năm vào dự toán ngân sách nhà nước hằng năm. Kèm theo đó là hợp nhất nguyên tắc, tiêu chí, định mức chi cho cả chi thường xuyên và chi đầu tư, thay vì mỗi loại chi theo một bộ tiêu chí riêng. Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội ủng hộ chủ trương thống nhất quy trình phân bổ và giao dự toán chi ngân sách với giao kế hoạch đầu tư công hằng năm, đồng thời nhất trí việc ban hành một nghị quyết chung về tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách để đồng bộ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Đây là thay đổi quan trọng đối với các nhà đầu tư công và cơ quan thực thi, vì kế hoạch vốn sẽ gắn chặt hơn với nguồn lực thực tế, giảm khoảng cách giữa “kế hoạch trên giấy” và khả năng cân đối tài chính.

Trao thêm quyền cho Chính phủ, siết trách nhiệm các bộ và địa phương
Một khi hợp nhất luật, bài toán không chỉ là ghép điều khoản, mà còn là phân lại quyền và trách nhiệm trong quản lý tài chính công. Dự thảo kế thừa, sửa đổi và đồng bộ quyền hạn của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng, các bộ, cơ quan trung ương, HĐND và UBND các cấp đối với đầu tư công. Đặc biệt, trách nhiệm của các bộ, cơ quan và địa phương trong việc ban hành, hướng dẫn tiêu chí và tổ chức đánh giá hiệu quả chương trình, dự án được nhấn mạnh xuyên suốt từ khâu lập, thẩm định, quyết định, phân bổ vốn, đến quản lý sử dụng vốn và vận hành sau đầu tư. Dự thảo cũng giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung như tiêu chí phân loại dự án nhóm A, B, C, trình tự quyết định chủ trương đầu tư, gia hạn thời gian bố trí vốn, theo dõi và đánh giá chương trình, dự án. Đây là lựa chọn chính trị rõ ràng: Quốc hội giữ vai trò quy định khung, còn Chính phủ được tăng mức linh hoạt để điều hành, nhưng đi kèm là yêu cầu trách nhiệm giải trình cao hơn.
Cải cách ngân sách nhà nước: Từ thủ tục nặng nề sang điều hành linh hoạt
Hợp nhất luật ngân sách không chỉ là câu chuyện tổ chức lại văn bản pháp luật, mà còn là cơ hội đẩy mạnh cải cách ngân sách nhà nước. Dự thảo cho phép phân bổ và sử dụng ngay số tăng thu ngân sách trong quá trình điều hành, sử dụng dự phòng, dự trữ tài chính, tăng thu và dự toán chi còn lại để bổ sung chi ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp vì lợi ích quốc gia. Đồng thời, phạm vi chuyển nguồn chi ngân sách nhà nước và thời hạn chi các khoản được chuyển nguồn sẽ được thu hẹp; quy trình, thủ tục và số lượng báo cáo được cắt giảm, chi phí tuân thủ giảm theo. Về bản chất, dự án luật mới đang cố gắng dịch hệ thống từ mô hình quản lý thiên về thủ tục sang mô hình điều hành linh hoạt nhưng có kiểm soát, nơi dòng ngân sách công có thể phản ứng nhanh hơn với biến động kinh tế – xã hội, trong khi vẫn nằm trong khuôn khổ kỷ luật tài khóa trung hạn.






