Từ nghiên cứu đến thị trường: khoảng trống không thể bỏ qua
Liên kết viện trường doanh nghiệp là quá trình cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp cùng xác định vấn đề, phát triển giải pháp, thử nghiệm rồi đưa công nghệ vào sản xuất và thị trường. Đây không nên là một thỏa thuận hình thức, mà là cách kiểm chứng tri thức bằng nhu cầu thực tế. Quy mô nghiên cứu công hiện khá lớn: cả nước có 242 viện, trường với hơn 4.800 nhiệm vụ, nhưng trong năm năm qua chỉ khoảng 12% đề tài kết nối với doanh nghiệp. Tỷ lệ này đặt ra câu hỏi về cách phân bổ nguồn lực: nếu doanh nghiệp chỉ xuất hiện ở cuối quy trình, nhiều kết quả dễ dừng ở bài báo hoặc báo cáo nghiệm thu thay vì tạo ra sản phẩm và giá trị kinh tế. Ngày 23/10, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì hội nghị quốc gia nhằm tháo gỡ điểm nghẽn liên kết và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Thông điệp đáng chú ý không phải là cần thêm hoạt động hợp tác, mà là cần hợp tác bắt đầu từ đúng bài toán.

Doanh nghiệp phải có mặt từ lúc bài toán được đặt ra
Muốn nghiên cứu đi đúng hướng, doanh nghiệp cần tham gia trước khi đề tài được thiết kế: nêu vướng mắc trong sản xuất, đặt hàng nghiên cứu, góp vốn đối ứng, phối hợp thử nghiệm và chuẩn bị tiếp nhận công nghệ. Doanh nghiệp, hợp tác xã cũng được yêu cầu chủ động đăng ký nhu cầu công nghệ, năng lực tiếp nhận đầu tư và khả năng bao tiêu sản phẩm. Đây không phải trách nhiệm dễ dàng với mọi đơn vị. Hơn 97% doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm nhỏ và vừa; hạn chế về tài chính, nhân lực chuyên môn và hạ tầng khiến nhiều nơi khó duy trì bộ phận nghiên cứu riêng. Vì thế, cơ chế đồng đầu tư giữa Nhà nước và doanh nghiệp cho các nhiệm vụ được doanh nghiệp đặt hàng có thể chia sẻ rủi ro, thay vì buộc một bên gánh toàn bộ chi phí. Ngày 28/10, một hội thảo tại TP.HCM tiếp tục bàn về vai trò doanh nghiệp trong định hướng nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đưa kết quả khoa học vào thực tiễn.

Đo thành công bằng sản phẩm, không bằng số cuộc họp
Số lượng đề tài hay biên bản hợp tác không thể thay thế kết quả ứng dụng. Với hợp tác nghiên cứu, thước đo cần là công nghệ đã chuyển giao, sản phẩm đã thương mại hóa và giá trị mới tạo ra cho nền kinh tế. Những chỉ số ấy buộc các bên chịu trách nhiệm đến cùng, từ khâu nghiên cứu đến khâu đưa giải pháp vào sử dụng. Nông nghiệp cho thấy rõ khoảng cách này: trong 451 sản phẩm khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được thống kê, 341 sản phẩm, tương đương khoảng 76%, vẫn ở giai đoạn nghiên cứu; chỉ khoảng 24% được ứng dụng hoặc thương mại hóa. Nếu công nghệ phục vụ người trồng rừng, hiệu quả nên được nhìn qua thu nhập thực tế của họ, không phải số phần mềm hay mô hình đã triển khai. Với người dân và người lao động, nghiên cứu bám sát nhu cầu có cơ hội tạo ra công cụ hữu ích hơn, đồng thời giúp giảm nguy cơ đầu tư vào kết quả khó thương mại hóa.

Biến đổi mới sáng tạo thành một chuỗi có trách nhiệm
Điểm nghẽn không thể được tháo bằng lời kêu gọi chung chung. Cần cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ, thử nghiệm, chuyển giao và thương mại hóa rõ ràng; đồng thời xác định lợi ích, trách nhiệm và mức đóng góp của Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất. Khi các bên cùng chịu trách nhiệm về đầu ra, đổi mới sáng tạo mới gắn với tăng trưởng thay vì chỉ dừng ở hoạt động nghiên cứu. Lộ trình đã được đặt ra: trước ngày 15/11/2026, các địa phương phía Bắc chủ động chọn từ ba đến năm bài toán ưu tiên; đến ngày 15/12/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện danh mục bài toán lớn và nhiệm vụ ưu tiên để triển khai từ quý I/2027. Hội nghị quốc gia cũng hướng tới xác định nhiệm vụ, giải pháp và lộ trình gắn nghiên cứu với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và thị trường. Kết luận rất rõ: tri thức chỉ phát huy giá trị khi có người cần, người đầu tư và người đưa nó vào sử dụng. Liên kết viện trường doanh nghiệp phải được đánh giá bằng chuyển giao công nghệ và thương mại hóa nghiên cứu, không phải bằng số thỏa thuận đã ký.







