Định hình lại khuôn khổ thương mại Việt Nam – Mỹ
Việt Nam đang đẩy mạnh đàm phán thương mại song phương với Mỹ nhằm dỡ bỏ kiểm soát xuất khẩu Mỹ đối với các nhóm hàng D1, D3, đồng thời thúc đẩy công nhận kinh tế thị trường cho Việt Nam để cải thiện điều kiện thương mại và tạo nền tảng pháp lý bình đẳng hơn cho doanh nghiệp hai bên trong bối cảnh quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện được mở rộng. Cần nhìn thẳng vào thực tế: nếu không sớm tháo gỡ hạn chế xuất khẩu D1 D3 và tình trạng chưa được công nhận tư cách nền kinh tế thị trường, thương mại Việt Nam Mỹ sẽ bị kìm hãm ở mức dưới tiềm năng. Khi Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng làm việc với loạt cơ quan kinh tế chủ chốt của Mỹ trong hai ngày 27-28/8 để bàn sâu về thương mại, tài chính và công nghệ, Hà Nội gửi đi một thông điệp rõ ràng: thời điểm điều chỉnh các rào cản đã chín muồi. Đây không phải bước đi lễ nghi, mà là một nỗ lực chủ động tái thiết luật chơi cho xuất khẩu Việt Nam.

Yêu cầu dỡ bỏ hạn chế xuất khẩu D1, D3: phép thử cho cách tiếp cận khách quan
Trong các cuộc gặp với Thứ trưởng Thương mại Mỹ Jeffrey Kessler và William Kimmitt, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đề nghị Mỹ sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu D1, D3. Về bản chất, đây là yêu cầu Mỹ phải cập nhật nhìn nhận đối với năng lực quản trị và độ tin cậy của Việt Nam trong chuỗi cung ứng, thay vì duy trì các hạn chế mang tính phòng ngừa đã lạc hậu. Điểm đáng chú ý là phía Việt Nam không chỉ đề nghị dỡ bỏ kiểm soát xuất khẩu Mỹ, mà còn yêu cầu cách tiếp cận khách quan, công bằng trong các vụ việc phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam. Nếu Washington đáp ứng, doanh nghiệp Việt Nam sẽ giảm được rủi ro bị áp thuế và biện pháp điều tra mang màu sắc định kiến. Ngược lại, nếu Mỹ chậm thay đổi, thông điệp về một quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện sẽ khó thuyết phục giới sản xuất và xuất khẩu trong nước.
Công nhận kinh tế thị trường: chìa khóa cho một luật chơi công bằng
Song song với việc yêu cầu nới hạn chế xuất khẩu D1 D3, Việt Nam nhấn mạnh đề nghị Mỹ xem xét công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Đây không chỉ là danh xưng chính trị; đó là yếu tố định đoạt cách Mỹ tính toán giá, chi phí và biên độ phá giá khi điều tra phòng vệ thương mại. Không được công nhận tư cách kinh tế thị trường nghĩa là doanh nghiệp Việt Nam dễ bị quy kết bán phá giá dựa trên các phương pháp tính có thể bất lợi. Việc Hà Nội kiên trì yêu cầu công nhận kinh tế thị trường cho thấy quyết tâm chuyển từ vị thế bị đánh giá sang vị thế được đối thoại ngang hàng. Khi Việt Nam chủ động khẳng định đang xác lập mô hình phát triển mới, đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực then chốt, yêu cầu này càng có cơ sở. Nếu Mỹ thực sự có cách tiếp cận khách quan, công bằng như phía Việt Nam mong muốn, việc công nhận không nên bị kéo dài thêm.
Mỹ ghi nhận nỗ lực của Việt Nam: tín hiệu tích cực nhưng chưa đủ
Điểm sáng trong chuyến công tác là phía Mỹ, đặc biệt qua Đại sứ Jamieson Greer – Trưởng đại diện Thương mại Mỹ (USTR), đã ghi nhận đề nghị Việt Nam về việc Mỹ xem xét tích cực, khách quan các nỗ lực của Việt Nam trong xử lý các vấn đề thương mại hai bên và tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Mỹ. Đây là sự thừa nhận rằng Hà Nội không né tránh, mà đang chủ động giải quyết những quan ngại của Washington. Tuy nhiên, ghi nhận không đồng nghĩa với cam kết ràng buộc. Từ góc độ lợi ích quốc gia, Việt Nam cần biến những tín hiệu thiện chí này thành các mốc thời gian cụ thể cho việc nới kiểm soát xuất khẩu Mỹ và tiến triển trong công nhận kinh tế thị trường. Khi Thứ trưởng Thương mại Mỹ đồng ý tiếp tục phối hợp chặt chẽ với cơ quan Việt Nam để triển khai hiệu quả các thỏa thuận đã có, đó mới là nền tảng để Hà Nội đòi hỏi các bước đi thực chất chứ không chỉ là lời hứa ngoại giao.

ART và tầm nhìn dài hạn cho thương mại Việt Nam – Mỹ
Một trục quan trọng trong các cuộc đàm phán là Hiệp định Thương mại đối ứng, cân bằng và công bằng (ART). Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng mong muốn hai bên sớm hoàn tất đàm phán ART để tạo nền tảng cho quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư song phương. Về mặt chiến lược, ART có thể trở thành khung tham chiếu mới, trong đó các vấn đề kiểm soát xuất khẩu, công nhận kinh tế thị trường và phòng vệ thương mại được xử lý một cách hệ thống, thay vì từng vụ việc lẻ tẻ. Điều quan trọng là Việt Nam đang gắn ART với tầm nhìn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng và khoáng sản thiết yếu. Nếu Hà Nội duy trì lập trường cứng rắn nhưng xây dựng, đàm phán thương mại song phương với Mỹ không chỉ là câu chuyện tháo gỡ rào cản hiện tại, mà còn là bước chuẩn bị cho một giai đoạn tăng trưởng mới, nơi doanh nghiệp Việt Nam được bảo vệ bởi một luật chơi rõ ràng và minh bạch hơn.





