Năm 2026: điểm xuất phát của kiến trúc phát triển Việt Nam mới
Kiến trúc phát triển Việt Nam trong giai đoạn mới là tổng thể các mục tiêu, thể chế, trụ cột tăng trưởng và không gian phát triển được thiết kế lại nhằm đạt tăng trưởng hai con số, vượt bẫy thu nhập trung bình và tiến tới nước phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ. Năm 2026 đánh dấu điểm xuất phát của kiến trúc này khi các mục tiêu chiến lược, chương trình hành động và quyết sách then chốt được đồng bộ hóa trong cùng một chu kỳ chính trị – kinh tế. Đây không còn là điều chỉnh cục bộ, mà là cuộc tái thiết toàn diện cách Việt Nam tạo ra, phân phối và tái đầu tư giá trị, với kỳ vọng mở ra quỹ đạo tăng trưởng dài hạn khác hẳn ba thập niên trước.
Sáng 20-01-2026, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam khai mạc tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội. Đây là sự kiện chính trị không chỉ tổng kết một nhiệm kỳ, mà còn đặt nền móng cho một kiến trúc phát triển mới. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII khẳng định Đại hội XIV có trọng trách lịch sử xác lập những quyết sách mang tính “bệ phóng” cho hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước. Nói cách khác, cột mốc 2026 là điểm khởi hành chính thức của chiến lược 2026-2030 gắn với tầm nhìn 2045 – nơi mọi quyết định về tăng trưởng, phân bổ nguồn lực và cải cách thể chế sẽ được thử lửa.

Tăng trưởng hai con số: lựa chọn táo bạo để vượt bẫy thu nhập trung bình
Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW với 40 chỉ tiêu cụ thể theo các mốc 2030, 2035 và 2045, làm cơ sở cho bộ, ngành và địa phương triển khai. Điều đáng chú ý là mục tiêu tăng trưởng được đẩy lên mức bứt phá: phấn đấu từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Cùng với đó, GDP bình quân đầu người được định hướng đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030.
Báo cáo trình Đại hội XIV nhấn mạnh lại tham vọng này khi đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 2026-2030 từ 10%/năm trở lên, kèm theo mức GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD vào năm 2030. Đây là bước ngoặt tư duy: không chấp nhận quỹ đạo tăng trưởng vừa phải, mà đặt cược vào tăng trưởng hai con số như điều kiện để đi tới nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào 2030 và hiện thực hóa tầm nhìn nước phát triển, thu nhập cao vào 2045. Lựa chọn táo bạo này đồng nghĩa Việt Nam tự buộc mình phải thay đổi mô hình tăng trưởng, nếu không muốn mắc kẹt ở bẫy thu nhập trung bình.
Kiến trúc phát triển Việt Nam: doanh nghiệp nội địa là lõi của năng lực mới
Nếu tăng trưởng hai con số là tham vọng, thì kiến trúc phát triển Việt Nam chính là “bản vẽ” để biến tham vọng thành năng lực thực. Thực tiễn quốc tế cho thấy, không quốc gia nào vươn lên nhóm thu nhập cao mà thiếu một lực lượng doanh nghiệp nội địa vững mạnh, được tích lũy qua nhiều chu kỳ phát triển và có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Nghị quyết 19 và Chương trình hành động của Chính phủ vì thế xem doanh nghiệp không chỉ là chủ thể sản xuất – kinh doanh, mà là lực lượng tiên phong trực tiếp tạo ra năng lực phát triển mới cho nền kinh tế.
Về bản chất, đây là sự tái định vị vai trò doanh nghiệp trong kiến trúc phát triển: từ đối tượng hỗ trợ sang đối tác chiến lược của Nhà nước trong kiến tạo tăng trưởng. Khi Đại hội XIV xác lập những quyết sách mang tính bệ phóng cho mục tiêu đến 2030 và tầm nhìn 2045, tầng doanh nghiệp phải trở thành nơi hiện thực hóa các mục tiêu đó bằng năng suất cao hơn, chuỗi giá trị dài hơn và mức độ tự chủ công nghệ lớn hơn. Nếu không có một “lõi doanh nghiệp” đủ mạnh, mọi thiết kế chính sách sẽ chỉ là mặt tiền đẹp của một cấu trúc phát triển thiếu sức chịu đựng.
Chiến lược 2026-2030 và tầm nhìn 2045: từ mục tiêu đến kỷ luật thực thi
Báo cáo trình Đại hội XIV đặt mục tiêu tổng quát: giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững; nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; đồng thời tiến tới năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đây là khung định hướng lớn của chiến lược 2026-2030 gắn với tầm nhìn 2045. Nhưng để các mục tiêu này không dừng ở tuyên bố, kiến trúc phát triển phải đi kèm kỷ luật thực thi nghiêm ngặt.
Chính phủ đã cụ thể hóa bằng một hệ chỉ tiêu tới 2030, 2035 và 2045, giao rõ trách nhiệm cho bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước. Điều này cho thấy một sự chuyển dịch: từ kế hoạch mang tính khung sang cơ chế ràng buộc trách nhiệm theo thời gian. Giai đoạn 2026-2030 vì vậy không chỉ là 5 năm đầu của một chiến lược mới, mà là bài kiểm tra khả năng đưa quyết sách Đại hội XIV vào đời sống. Nếu giai đoạn này đạt tăng trưởng hai con số như mục tiêu, kiến trúc phát triển mới sẽ có độ tin cậy; ngược lại, Việt Nam sẽ phải đối diện sức ép điều chỉnh chiến lược ngay trong hành trình tiến tới 2045.






