Từ hạ tầng manh mún đến chiến lược 10.000 tỷ đồng cho công nghệ chiến lược
Chiến lược đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng cho hạ tầng nghiên cứu dùng chung đến năm 2030 là chương trình Nhà nước tập trung xây dựng 8 phòng thí nghiệm trọng điểm và 4 trung tâm thử nghiệm, hướng tới nâng cấp năng lực công nghệ chiến lược, cải thiện hiệu quả nghiên cứu – chuyển giao, và tạo nền tảng cạnh tranh mới cho kinh tế tri thức ở Việt Nam. Đây không chỉ là một gói đầu tư mà là cú xoay tư duy: từ mua sắm thiết bị rời rạc, mỗi nơi giữ một góc, sang thiết kế một hệ sinh thái hạ tầng nghiên cứu Việt Nam mang tính quốc gia, dùng chung giữa viện, trường và doanh nghiệp. Điều này đặt câu hỏi: chúng ta muốn đứng ở đâu trong cuộc đua công nghệ Đông Nam Á khi tài nguyên, lao động giá rẻ không còn là lợi thế bền vững.
Thiết kế hệ thống: 8 phòng thí nghiệm trọng điểm, 4 trung tâm thử nghiệm
Theo kế hoạch, mỗi phòng thí nghiệm trọng điểm dự kiến được đầu tư ở mức khoảng 500 tỷ đồng, mỗi trung tâm thử nghiệm khoảng 1.500 tỷ đồng. Con số này cho thấy tầm nhìn: thay vì trải đều cho hàng trăm đơn vị, chiến lược chọn vài "đầu tàu" và buộc chúng phải tạo ra giá trị đo được. Ông Đinh Gia Nghiêm nhấn mạnh điểm mới là hình thành hạ tầng nghiên cứu quốc gia dùng chung, thay cho mô hình "ai mua, nấy dùng" đã kéo dài suốt 20 năm qua. Điều đáng chú ý là khoản đầu tư được tính theo vòng đời: không dừng ở mua sắm ban đầu mà tính cả vận hành, bảo trì, nâng cấp và kinh phí nghiên cứu. Nếu được triển khai nghiêm túc, đây là bước tách khỏi tư duy dự án một lần, mở đường cho vận hành bền vững – điều mà nhiều phòng thí nghiệm hiện nay đang thiếu.
Vì sao phải làm ngay: điểm nghẽn chuyển hóa tri thức thành công nghệ
Nếu chỉ nhìn số lượng bài báo, hạ tầng nghiên cứu Việt Nam có vẻ không quá tệ. Khảo sát tại 113 trung tâm và phòng thí nghiệm cho thấy trong 5 năm, họ công bố 5.508 bài báo nhưng chỉ tạo ra 390 sáng chế, giải pháp hữu ích và 622 hợp đồng chuyển giao. Khoảng cách giữa tri thức và sản phẩm đang là điểm nghẽn. Hệ thống cũ thiếu các khâu đo kiểm, thử nghiệm, chế tạo nguyên mẫu, sản xuất thử – thời khắc quyết định xem phát hiện khoa học có trở thành công nghệ chiến lược hay chỉ dừng lại ở báo cáo. Theo tôi, gói đầu tư 10.000 tỷ đồng chỉ có ý nghĩa nếu bù được chính khoảng trống này. Các trung tâm thử nghiệm phải trở thành "cầu nối bắt buộc" giữa phòng thí nghiệm trọng điểm và thị trường, không phải là nơi để bổ sung thêm vài dây chuyền cho đẹp báo cáo.
Mô hình dùng chung: cơ hội cho doanh nghiệp, thách thức cho quản trị
Mô hình hạ tầng dùng chung được thiết kế để doanh nghiệp có thể tiếp cận năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, đo kiểm mà không phải tự gánh chi phí đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn dài. Về lý thuyết, đây chính là "bệ phóng" cho các sản phẩm công nghệ chiến lược của khu vực tư nhân. Nhưng để nó không biến thành một "khách sạn thiết bị" đóng kín, chúng ta phải chuyển từ tư duy quản lý tài sản sang quản trị năng lực nghiên cứu như PGS.TS Trương Ngọc Kiểm đề xuất. Nghĩa là phòng thí nghiệm trọng điểm phải được chấm điểm bằng số công nghệ được làm chủ, tài sản sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp hình thành, hợp đồng chuyển giao – không phải bằng số đề tài được duyệt. Cơ chế dùng chung dự kiến hoàn thành vào quý I/2027, và nếu sau 3–5 năm các đơn vị không đạt 70% chỉ tiêu, việc chuyển giao cho tổ chức có năng lực hơn là tín hiệu rằng cuộc chơi này có chuẩn mực, không phải "ai xin được thiết bị là thắng".
Liên kết với chiến lược vật liệu: nền móng cho tự chủ công nghệ
Câu chuyện phòng thí nghiệm trọng điểm không thể tách khỏi chiến lược phát triển ngành vật liệu – lĩnh vực được xác định là ngành nền tảng, giữ vai trò quyết định đối với tự chủ chiến lược, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ lõi. Phát triển ngành vật liệu được coi là nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhằm đóng góp quan trọng cho tăng trưởng nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và có sức chống chịu. Bộ Chính trị yêu cầu đến năm 2026 phải ban hành chiến lược quốc gia về phát triển ngành vật liệu đến 2030, tầm nhìn 2045, và đến 2030, Việt Nam phải làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu pin, nâng tỷ lệ nội địa hóa một số vật liệu chiến lược lên 50%. Nếu các phòng thí nghiệm trọng điểm không được thiết kế để "phục vụ" những chuỗi vật liệu khép kín này, chúng ta sẽ tiếp tục xuất tài nguyên thô và nhập công nghệ – nghĩa là lặp lại vòng luẩn quẩn cũ.






