Nông thôn mới 2026-2030: cuộc đua bước vào giai đoạn khắt khe
Nông thôn mới 2026-2030 là giai đoạn phát triển nông thôn Việt Nam với bộ chuẩn nông thôn mới và tiêu chí nông thôn hiện đại được nâng cao, nhấn mạnh bền vững, hiện đại, xanh, sinh thái, gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, chuyển đổi số và giảm nghèo đa chiều trên toàn quốc. Đây không còn là cuộc vận động phong trào mà là phép thử năng lực quản trị địa phương, khả năng huy động nguồn lực và điều hành thực chất. Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn mới, nên mỗi quyết định đều mang tính bản lề: hoặc tạo đà tăng tốc, hoặc bộc lộ rõ điểm yếu về quy hoạch, hạ tầng, kinh tế nông thôn và năng lực cán bộ. Câu chuyện không chỉ là thêm bao nhiêu xã đạt chuẩn, mà là nông thôn Việt Nam có thực sự bước sang mô hình phát triển mới hay tiếp tục gánh những khoảng cách vùng miền kéo dài.
Tuyên Quang: đặt mục tiêu cao nhưng bài toán là chất lượng hay số lượng?
Tuyên Quang đang chọn cách bứt phá bằng con số: phấn đấu khoảng 51,28% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương đương 60/117 xã; đồng thời có khoảng 3,3% số xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại, tương đương 2 xã vào năm 2030. Cùng với đó là định hướng nông thôn mới bền vững, hiện đại, gắn đô thị hóa, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái. Tổng nguồn vốn ngân sách Trung ương dự kiến bố trí trực tiếp cho chương trình giai đoạn 2026-2030 lên tới trên 6.049 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư công trên 4.333 tỷ và kinh phí thường xuyên trên 1.716 tỷ. Câu hỏi đặt ra là địa phương có đủ năng lực để biến nguồn lực đó thành thay đổi thực chất, hay chỉ chạy đua hoàn thành bình quân trên 7 tiêu chí/xã, giảm nghèo 3%/năm mà chưa chạm sâu tới khoảng cách vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Cần Thơ: mô hình tăng tốc dựa trên dữ liệu và sát cơ sở
Trái với tâm lý chờ hướng dẫn chung chung, Cần Thơ vào cuộc ngay từ đầu năm 2026 bằng cách hoàn thiện khung thể chế, ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 và triển khai đồng loạt tại 72 xã. Thành phố chuyển mạnh từ ban hành văn bản sang bám sát tiến độ thực chất, thiết lập bảng theo dõi chi tiết 47 nội dung cho từng xã, cập nhật hàng tháng để phát hiện sớm "nút thắt". Cách làm này cho thấy muốn tăng tốc trong chặng nước rút phải có dữ liệu, công cụ giám sát tiến độ và đội ngũ cán bộ được bồi dưỡng kỹ năng lập kế hoạch, quản lý, huy động nguồn lực. Người dân hưởng lợi trực tiếp khi được hỗ trợ tiếp cận tiện ích công nghệ số trong giải quyết thủ tục hành chính, cải cách hành chính và chuyển đổi số gắn liền với xây dựng nông thôn mới. Nếu được duy trì nhất quán, đây có thể trở thành hình mẫu điều hành chương trình nông thôn mới 2026-2030 theo hướng hiện đại, minh bạch.

Quảng Ngãi: mục tiêu 65% xã đạt chuẩn và áp lực từ bộ tiêu chí mới
Quảng Ngãi chọn cách đặt mục tiêu rõ ràng và dồn lực cho những xã trọng điểm. Theo kế hoạch, tỉnh phấn đấu có 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2026, với tổng nguồn vốn gần 70 tỷ đồng tập trung cho các xã Đăk Hà, Đăk Mar, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh, Bình Sơn, Vạn Tường, Tịnh Khê, Tư Nghĩa, Thọ Phong và An Phú. Xa hơn, tỉnh đặt mục tiêu đến 2030 có trên 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (58/87 xã) và khoảng 2% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại (1/87 xã). Nhưng đằng sau các con số là sức ép lớn: năm 2026 là năm đầu tiên áp dụng Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030, trong khi các xã mới chỉ đạt từ 4-8 tiêu chí. Việc phải hoàn thành toàn bộ bộ tiêu chí khi còn nhiều vướng mắc về quy hoạch, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và phát triển kinh tế nông thôn cho thấy Quảng Ngãi sẽ phải thay đổi cách làm nếu không muốn mục tiêu biến thành gánh nặng.

Tương lai phát triển nông thôn Việt Nam: không thể chỉ đếm số xã đạt chuẩn
Điểm chung của Tuyên Quang, Cần Thơ, Quảng Ngãi là đều đặt ra những mục tiêu rõ ràng cho giai đoạn nông thôn mới 2026-2030, nhưng cách tiếp cận rất khác nhau. Một số tỉnh vẫn thiên về tỷ lệ xã đạt chuẩn, trong khi những nơi đi nhanh đang coi chuẩn nông thôn mới và tiêu chí nông thôn hiện đại là công cụ tái thiết kinh tế nông thôn theo hướng sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn và chuyển đổi số. Cuối cùng, phát triển nông thôn Việt Nam không thể đo bằng vài con số đạt chuẩn, mà phải nhìn vào thu nhập, việc làm, chất lượng dịch vụ cơ bản, khả năng tiếp cận công nghệ, và việc thu hẹp khoảng cách giữa vùng thuận lợi với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Giai đoạn mới sẽ phân hóa rõ: những tỉnh dám nhìn thẳng vào điểm yếu về quy hoạch, công nghệ, kinh tế nông thôn sẽ có cơ hội bứt phá; còn những nơi chỉ chạy theo thành tích sẽ tự làm chậm bước chuyển mình của nông thôn Việt Nam.






