STEM trong trường học: Chính sách “không thêm tiết” nhưng thực tế thêm việc
STEM giáo dục trường học là cách tổ chức dạy học giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học để giải quyết vấn đề thực tiễn, được tích hợp vào các môn hiện có thay vì tạo ra một môn học riêng, với mục tiêu đổi mới phương pháp, tăng trải nghiệm và phát triển năng lực vận dụng chứ không chỉ truyền thụ lý thuyết khô cứng. Về mặt văn bản, dự thảo Thông tư về giáo dục STEM nhấn mạnh nguyên tắc không làm phát sinh môn học mới, không tăng thời lượng dạy học, không thêm đầu điểm hay sổ sách riêng. Nhưng đòi hỏi đó đi kèm một nghịch lý: giờ học không dài hơn, song danh sách việc phải làm của giáo viên lại dày lên đáng kể. Khi chủ trương được thiết kế chủ yếu trên khung thời lượng, mà ít tính tới khối lượng chuẩn bị, chính sách dễ rơi vào tình trạng “đẹp trên giấy, nặng dưới lớp”.

Áp lực công việc giáo viên: STEM không tăng tiết nhưng tăng khối chuẩn bị
Câu chuyện của cô giáo Vàng Thị Dính ở một trường phổ thông dân tộc nội trú cho thấy rõ mặt khuất của STEM trong lớp học. Với một bài STEM về năng lượng, giáo viên không chỉ soạn giáo án, mà phải thiết kế cả quy trình: học sinh tìm vấn đề, đề xuất giải pháp, chế tạo, thử nghiệm, sửa lỗi rồi hoàn thiện sản phẩm. Mỗi khâu đều kéo theo câu hỏi chi tiết: vật liệu gì, bao nhiêu nhóm, phân bổ thời gian, xử lý tình huống sản phẩm hỏng, tiêu chí đánh giá ra sao, học sinh yếu tham gia thế nào. Những việc này không hiện lên trong thời khóa biểu, nhưng ăn vào thời gian trước và sau giờ dạy. Ngay cả khi giáo viên khẳng định áp lực chưa đến mức “quá tải”, họ vẫn phải tự thừa nhận mình đang đầu tư nhiều hơn cho kiến thức, thiết bị, học liệu, phiếu bài tập, phiếu đánh giá và góp ý cải tiến sản phẩm sau giờ học. Áp lực xuất hiện không phải ở số tiết, mà ở chiều sâu yêu cầu chuyên môn và tổ chức.
Khoảng cách giữa thiết kế chính sách và thực tế triển khai STEM hiệu quả
Khi văn bản khẳng định STEM “không gây áp lực, quá tải cho học sinh và giáo viên”, nhiều người trong cuộc coi đó là một nhận định xa thực tế. Bởi bản chất của triển khai STEM hiệu quả là phải thay đổi vai trò giáo viên từ người giảng giải sang người tổ chức học tập đa hoạt động. Nếu chỉ yêu cầu học sinh làm vài mô hình cho có, STEM dễ biến thành giờ thủ công, đẹp hình thức nhưng rỗng nội dung. Ngược lại, nếu đặt mục tiêu sản phẩm quá cao mà không có thời gian, thiết bị và hỗ trợ phù hợp, giáo viên và học sinh sẽ bị cuốn vào cuộc chạy đua hoàn thành sản phẩm, quên mất mục tiêu phát triển năng lực và kiến thức. Khoảng cách giữa thiết kế chính sách và lớp học nằm ở chỗ: văn bản tính theo số tiết, thực tế tính bằng năng lực, thời gian chuẩn bị, sự phối hợp giữa các bên. Khi những biến số này không được tính đến, áp lực công việc giáo viên là điều không tránh khỏi.
Đưa STEM ra ngoài nhà trường: Cửa mở mới nhưng vướng kinh phí và truyền thông
Dự thảo Thông tư mới cho phép tổ chức STEM ngoài nhà trường tại doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, bảo tàng… trên nguyên tắc tự nguyện, an toàn, không vì mục đích quảng cáo, bán hàng. Các hiệu trưởng đánh giá đây là hướng đi thiết thực: nếu tổ chức tốt, học sinh được quan sát quy trình sản xuất, ứng dụng khoa học, gắn lý thuyết với thực hành, từ đó học tập hào hứng hơn và rèn kỹ năng thực tế. Thầy Nguyễn Thanh Hải cho rằng nhà trường có thể chủ động kết nối đối tác, tận dụng chuyên gia và địa điểm, nhưng nếu thiếu cơ chế kinh phí rõ ràng thì khó duy trì chương trình trải nghiệm STEM thường xuyên và bền vững. Trong khi đó, thầy Phạm Kiều Hưng nhấn mạnh, thay vì tạo thêm khoản đóng góp từ phụ huynh, các trường phải làm tốt truyền thông về ý nghĩa, lợi ích và hiệu quả thực tế của STEM để nhận được đồng thuận xã hội. Cửa mở chính sách không tự giải quyết được bài toán nguồn lực.

Muốn STEM không thành gánh nặng: Cần mạng lưới hỗ trợ và phân bổ nguồn lực rõ ràng
Thực tế cho thấy, STEM giáo dục trường học hiện vẫn đòi hỏi giáo viên đầu tư ở cả trước, trong và sau giờ dạy. Tại những trường có nhiều giáo viên lớn tuổi, họ chưa được đào tạo bài bản về STEM khi học đại học, nên càng cần được bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng tổ chức hoạt động và khả năng kết nối kiến thức với thực tiễn. Nếu chỉ đưa thêm yêu cầu mà không đi kèm cấu trúc hỗ trợ, áp lực công việc giáo viên chỉ có tăng. Hướng khả thi là hình thành mạng lưới liên kết thường xuyên giữa trường phổ thông và các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, tổ chức khoa học để chia sẻ cơ sở vật chất, chuyên gia, nội dung trải nghiệm. Khi cơ chế kết nối rõ ràng, minh bạch, STEM có cơ hội được tổ chức thường xuyên, đi vào thực chất thay vì vài hoạt động lẻ tẻ. Kết luận thẳng thắn là: STEM chỉ thực sự nhân văn khi chính sách nhìn thấy công sức thầm lặng của giáo viên và phân bổ lại nguồn lực cho phù hợp.







