Giáo dục STEM trường học: Từ nghị quyết đến lớp học
Giáo dục STEM trường học là cách tổ chức dạy học tích hợp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học thông qua dự án và trải nghiệm thực hành, nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề thực tiễn, phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng hợp tác và năng lực tự nghiên cứu một cách chủ động, liên tục và có ý thức nghề nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục. Trong bức tranh đó, Hải Phòng đang là một trong những địa phương đi đầu khi triển khai giáo dục STEM bậc THCS, THPT theo các Nghị quyết của Bộ Chính trị. Điểm đáng chú ý không chỉ là con số 100% trường tham gia, mà là cách địa phương biến nghị quyết thành các hoạt động cụ thể trong lớp học, gắn STEM với đổi mới phương pháp dạy học, công nghệ số và định hướng công dân số cho học sinh.
Hải Phòng: 100% trường THCS, THPT triển khai STEM nhưng thiếu bứt phá về phòng thực hành
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngành giáo dục Hải Phòng đã đẩy mạnh triển khai giáo dục STEM trong toàn bộ hệ thống THCS, THPT. "Đến nay, 100% số trường THCS, THPT trên địa bàn triển khai giáo dục STEM" – con số này đặt Hải Phòng vào nhóm tiên phong về độ phủ chương trình. Giáo viên tích cực tích hợp STEM trong các môn khoa học tự nhiên, đồng thời dùng công nghệ VR, AR và trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy. Ở cấp hạ tầng, thành phố mới có 3 phòng thực hành STEM chuyên biệt tại THPT chuyên Trần Phú, THPT Tứ Kỳ và THCS Lương Khánh Thiện, phục vụ 975 học sinh với 41 chủ đề và 79 tiết dạy liên môn. Điều này cho thấy tốc độ mở rộng không gian phòng thực hành khoa học chưa theo kịp mức độ phổ cập chương trình, tạo ra khoảng cách giữa “STEM trên giấy” và trải nghiệm thực hành sâu.
Ở chiều tích cực, giáo dục STEM đã tạo môi trường để học sinh Hải Phòng chủ động vận dụng kiến thức, rèn năng lực giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, thuyết trình và tự nghiên cứu. Các dự án nghiên cứu khoa học, STEM, Robotics của học sinh được ghi nhận bước tiến về hàm lượng kỹ thuật, tính ứng dụng, và đã đạt nhiều giải cao cấp quốc gia; đáng chú ý là chức vô địch tại sân chơi FIRST LEGO League Hong Kong Championship. Tuy vậy, chính đội ngũ giáo viên ở địa phương cũng đề xuất Trung ương và thành phố tiếp tục đầu tư trang bị thiết bị dạy học hiện đại. Không có phòng thực hành khoa học đủ chuẩn, khó duy trì lâu dài chất lượng giáo dục STEM, vì học sinh sẽ thiếu không gian để thử nghiệm, sai và học – yếu tố cốt lõi của STEM.
Quảng Ninh: Đặt cược vào phòng thực hành STEM và chuyển đổi số
Trái với hướng đi mở rộng nhanh quy mô triển khai như Hải Phòng, Quảng Ninh chọn ưu tiên chiều sâu thông qua đầu tư phòng thực hành giáo dục STEM. Tại Trường THPT Cẩm Phả và THCS Trọng Điểm, các phòng thực hành khoa học được trang bị hệ thống thiết bị đồng bộ, hiện đại, phục vụ học tập, thực hành và nghiên cứu của học sinh. Những phòng này có diện tích từ 80–120m² và được đầu tư ở mức cao, giúp học sinh tiếp cận robotics, Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, cảm biến thông minh và công cụ lập trình. Đây không chỉ là “phòng thiết bị” mà là môi trường học tập mới, nơi học sinh làm quen với công nghệ đang được dùng trong thực tiễn sản xuất và đời sống. Nhờ đó, giáo dục STEM gắn sát hơn với yêu cầu nghề nghiệp tương lai.
Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh đã chỉ đạo 100% cơ sở giáo dục đưa nội dung STEM vào kế hoạch giáo dục nhà trường; các tổ, nhóm chuyên môn tích hợp kiến thức liên môn và STEM vào kế hoạch bài dạy. Đồng thời, toàn ngành phối hợp với Tập đoàn Petrovietnam để trang cấp 3 phòng STEM theo chuẩn quốc tế cho THPT Cẩm Phả, THPT Uông Bí và THCS Trọng Điểm. Kế hoạch số 136/KH-UBND cũng đặt mục tiêu chuyển đổi số: đến tháng 6/2026, 100% cơ sở giáo dục đạt mức độ chuyển đổi số từ mức 2 trở lên, trong đó 50% đạt mức 3 – mức cao nhất. Như vậy, Quảng Ninh không chỉ đầu tư thiết bị mà còn chuẩn hóa năng lực đội ngũ, tổ chức tập huấn giáo dục STEM và chuyển đổi số cho cán bộ, giáo viên trung học trong năm học 2026–2027.
Kỹ năng học sinh nhận được: STEM có đang xứng với kỳ vọng?
Điểm trùng nhau giữa hai địa phương là nhận thức: giáo dục STEM trường học không chỉ là thêm vài tiết thực hành, mà là thay đổi cách học. Tại Hải Phòng, mô hình STEM được khẳng định giúp học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, thuyết trình và tự nghiên cứu. Mô hình này cũng trang bị kiến thức đa lĩnh vực, tăng thời lượng thực hành, giúp học sinh làm chủ và khai thác công nghệ cho học tập, cuộc sống, rèn kỹ năng trở thành công dân số trong thời đại công nghệ 4.0. Ở Quảng Ninh, với quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, giáo dục STEM được tổ chức để mỗi em phát huy năng lực, chủ động giải quyết vấn đề và gắn kiến thức với thực tiễn. Đây là những kỹ năng mà giáo dục truyền thống thường thiếu: dám hỏi, dám làm, dám sai và sửa.
Tuy vậy, câu hỏi là chất lượng các hoạt động đó có đồng đều giữa các trường, các huyện hay không. Khi 100% trường THCS, THPT được yêu cầu triển khai STEM, nguy cơ “chạy” chỉ tiêu là có thật: một số nơi có thể dừng lại ở mức độ lồng ghép hình thức, thiếu dự án, thiếu sản phẩm, thiếu đánh giá theo năng lực. Tại Quảng Ninh, dù đã bố trí cơ bản các phòng thực hành STEM, ngành giáo dục vẫn đang chờ hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo để hoàn thiện danh mục, mua sắm và bổ sung thiết bị, bảo đảm các phòng phát huy hiệu quả trong dạy và học. Nếu hướng dẫn chậm, thiết bị có nguy cơ bị “đắp chiếu”, còn giáo viên khó duy trì nhịp triển khai. Nói cách khác, kỹ năng học sinh có bền và sâu đến đâu phụ thuộc vào mức độ đầu tư đồng bộ cả thiết bị lẫn chương trình, phương pháp, đánh giá.
Cơ hội, thách thức và gợi ý bước tiếp theo cho địa phương
Khi Hải Phòng đặt mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh giáo dục STEM gắn với đổi mới phương pháp dạy học và tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong năm học 2026–2027, còn Quảng Ninh phấn đấu 116 cơ sở giáo dục phổ thông được trang bị phòng thực hành STEM, bức tranh chung là đầy cơ hội. Một bên đã phổ cập triển khai STEM trường THCS, THPT, một bên tập trung xây dựng hạ tầng phòng thực hành khoa học, đội ngũ, chuyển đổi số. Nhưng cả hai cùng đối mặt thách thức: nguồn lực tài chính, chênh lệch điều kiện giữa vùng thuận lợi và vùng khó, cũng như áp lực phải biến trang bị dạy học STEM thành hiệu quả thực chất. Nếu chỉ xây phòng, mua thiết bị mà không duy trì được lịch thực hành dày, không gắn với dự án, với cộng đồng doanh nghiệp, STEM sẽ dễ trở thành một phong trào ngắn hạn hơn là chiến lược dài hơi.
Vì vậy, bước tiếp theo nên tập trung vào ba trục. Thứ nhất, chuẩn hóa chương trình STEM theo hướng mở: cho phép địa phương linh hoạt nhưng vẫn có tiêu chí chung về số tiết thực hành, dự án, sản phẩm học sinh. Thứ hai, đầu tư có trọng tâm vào phòng thực hành khoa học ở những vùng còn thiếu, tránh dàn trải; kết hợp xã hội hóa nhưng phải đảm bảo mọi học sinh đều có cơ hội trải nghiệm. Thứ ba, xây dựng cơ chế đánh giá độc lập hiệu quả giáo dục STEM trường học – dựa trên kỹ năng giải quyết vấn đề, sáng tạo, hợp tác của học sinh thay vì chỉ dựa trên báo cáo triển khai. Khi trang bị thiết bị dạy học STEM được coi là điều kiện, còn năng lực học sinh là thước đo, các địa phương sẽ buộc phải tổ chức lại cách dạy và học, để STEM thực sự trở thành động lực đổi mới giáo dục phổ thông.






