Chia sẻ hạ tầng viễn thông: Khái niệm và bước ngoặt lập pháp
Chia sẻ hạ tầng viễn thông là nguyên tắc cho phép nhiều doanh nghiệp cùng sử dụng cột ăng-ten, nhà trạm, tuyến truyền dẫn và các công trình kỹ thuật liên quan trên cơ sở hợp đồng hoặc thỏa thuận, nhằm giảm đầu tư trùng lặp, tiết kiệm nguồn lực xã hội và mở rộng phủ sóng vùng sâu vùng xa, thay vì mỗi đơn vị phải tự xây dựng một mạng lưới riêng biệt đầy tốn kém nhưng hiệu quả khai thác thấp. Ngày 13/8, Quốc hội thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên. Đến ngày 24/8, với 100% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã chính thức thông qua luật sửa đổi đối với bốn lĩnh vực này. Đây không chỉ là một quyết định kỹ thuật, mà là thông điệp chính trị rõ ràng: đã đến lúc chấm dứt tư duy "mỗi doanh nghiệp một hạ tầng" trong đầu tư viễn thông Việt Nam. Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, các quy định mới tập trung cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân định rõ thẩm quyền quản lý và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm để tạo môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp công nghệ, viễn thông và hoạt động đổi mới sáng tạo. Đây là nền pháp lý cần thiết để nguyên tắc chia sẻ hạ tầng viễn thông không bị chết yểu trên giấy.

Tại sao miền núi, biên giới cần chia sẻ hạ tầng hơn ai hết?
Nếu có nơi nào cần chia sẻ hạ tầng viễn thông trước tiên, đó chính là miền núi, biên giới và vùng đặc biệt khó khăn. Ở các khu vực địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chi phí đầu tư cột ăng-ten, nhà trạm, tuyến truyền dẫn và duy trì vận hành luôn cao hơn nhiều so với nơi mật độ dân cư dày đặc, trong khi hiệu quả kinh doanh lại thấp. Đầu tư viễn thông Việt Nam ở đây giống bài toán ngược: bỏ vốn lớn nhưng thu hồi khó, khiến doanh nghiệp ngại mở rộng vùng phủ sóng. Thực tế nhiều năm cho thấy, khi mỗi nhà mạng tự xây một hệ thống riêng tại cùng một địa bàn, xã hội chịu hai cái giá: nguồn lực bị phân tán và vùng phủ sóng vẫn tiến rất chậm. Thay vì một trạm phát sóng đủ phục vụ nhiều nhà mạng, chúng ta có ba, bốn trạm lẻ tẻ, vừa lãng phí đất đai, năng lượng, vừa không cải thiện rõ chất lượng dịch vụ. Quan trọng hơn, người dân nghèo ở vùng sâu vùng xa lại tiếp tục bị đặt ngoài lề chuyển đổi số, chỉ vì mô hình đầu tư hạ tầng chưa dựa trên dùng chung. Đại biểu Sùng A Lềnh nhấn mạnh cần xác định ngay trong luật nguyên tắc khuyến khích và tạo điều kiện sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông, đặc biệt tại miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và các địa bàn có hiệu quả kinh doanh thấp. Đây là lập luận thuyết phục: nếu luật không gọi tên ưu tiên này, doanh nghiệp sẽ tiếp tục nhìn các khu vực biên giới đầy rủi ro như "vùng cấm" đầu tư.

Luật viễn thông sửa đổi: Từ cơ chế đặc thù đến nguyên tắc chung
Điểm đáng chú ý của luật viễn thông sửa đổi là đã bước đầu luật hóa cơ chế chia sẻ hạ tầng viễn thông để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, với yêu cầu việc chia sẻ phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng hoặc văn bản phù hợp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở mục tiêu quốc phòng, an ninh, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội biến chia sẻ hạ tầng thành động lực mở rộng phủ sóng vùng sâu vùng xa. Đại biểu Sùng A Lềnh đề nghị ngay trong Điều 47 phải xác định nguyên tắc khuyến khích sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông, nhất là tại các địa bàn có hiệu quả kinh doanh thấp, đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể cơ chế thực hiện, từ nguyên tắc xác định giá thuê, trách nhiệm đầu tư, vận hành, bảo trì đến quyền và nghĩa vụ của các bên và cách xử lý khi doanh nghiệp không thỏa thuận được phương án chia sẻ. Các quy định này vừa bảo đảm quyền tài sản, quyền kinh doanh của doanh nghiệp, vừa tạo công cụ để tránh đầu tư trùng lặp và sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực xã hội. Ở góc độ chính sách, đây là bước chuyển từ tư duy "Nhà nước yêu cầu doanh nghiệp phải đầu tư" sang "Nhà nước tạo khung pháp lý để doanh nghiệp cùng đầu tư và cùng khai thác". Nếu được triển khai đầy đủ, nguyên tắc chia sẻ hạ tầng sẽ giúp thị trường bớt đối đầu, nhiều hơn hợp tác, nhất là tại những nơi mà lợi nhuận không thể là động lực duy nhất.

Cắt giảm thủ tục, phân cấp quản lý: Đòn bẩy thực thi chia sẻ hạ tầng
Một nguyên tắc hay sẽ vô nghĩa nếu bị chôn vùi dưới lớp thủ tục rối rắm. Luật sửa đổi lần này thể hiện nỗ lực cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và phân định rõ thẩm quyền quản lý trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và chuyển giao công nghệ. Một số điều kiện liên quan đến cấp giấy phép viễn thông, tham gia đấu giá, thi tuyển quyền sử dụng tần số và hoạt động đăng ký, duy trì tên miền đã được cắt giảm, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Theo Chính phủ, việc bãi bỏ nhiều thủ tục dựa trên khai thác dữ liệu dùng chung và tăng cường kết nối giữa các cơ quan quản lý, để doanh nghiệp chỉ phải thông báo, cập nhật thông tin một lần tại cơ quan đăng ký doanh nghiệp thay vì thực hiện nhiều thủ tục hành chính khác nhau. Đây là chi tiết quan trọng: khi doanh nghiệp không mất thời gian "chạy giấy", họ mới có năng lực tập trung vào bài toán chia sẻ hạ tầng viễn thông và mở rộng phủ sóng vùng sâu vùng xa. Dĩ nhiên, chuyển sang hậu kiểm cũng có rủi ro. Nếu giám sát bằng dữ liệu số, thanh tra, kiểm tra không được tăng cường, chia sẻ hạ tầng có thể bị lợi dụng để trốn đầu tư, phụ thuộc vào hạ tầng của một vài doanh nghiệp lớn. Nhưng với cơ chế đình chỉ hoặc chấm dứt hoạt động cung cấp dịch vụ khi doanh nghiệp vi phạm quy định, luật đã chuẩn bị sẵn "cây gậy" để đi cùng "củ cà rốt" cắt giảm thủ tục.
Từ hiệu lực luật đến phủ sóng thực tế: Không thể chờ thêm một thế hệ
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ sẽ có hiệu lực từ ngày 1/3/2027, riêng quy định về cấp băng tần cho doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và các nội dung sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ có hiệu lực từ ngày 1/10/2026. Khoảng thời gian chờ từ nay tới khi luật có hiệu lực không nên là giai đoạn "ngủ đông", mà phải là lúc thiết kế chi tiết cơ chế chia sẻ hạ tầng viễn thông. Theo quy định về băng tần, chậm nhất 9 tháng trước khi giấy phép hết hiệu lực, Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an phải đánh giá hiệu quả sử dụng băng tần và báo cáo Thủ tướng quyết định dừng hoặc tiếp tục thực hiện đề án. Đây là mô hình đánh giá hiệu quả nguồn lực mà chúng ta nên áp dụng cho cả hạ tầng viễn thông dùng chung: trạm nào hoạt động kém, vùng phủ sóng nào còn bị bỏ trống, doanh nghiệp nào chỉ "đứng ké" hạ tầng nhưng không góp phần đầu tư. Nếu tận dụng đúng cơ hội lập pháp này, chia sẻ hạ tầng viễn thông sẽ không chỉ là khẩu hiệu mà trở thành thực tế: người dân ở bản xa, làng biên giới có thể lên mạng để học tập, kinh doanh, kết nối; doanh nghiệp giảm gánh nặng đầu tư; Nhà nước kiểm soát tốt nguồn lực xã hội. Ngược lại, nếu luật chỉ được đọc trong phòng họp, chúng ta sẽ tiếp tục chứng kiến một thế hệ vùng sâu vùng xa bị lỡ chuyến tàu số hóa, dù khung pháp lý đã có mặt đầy đủ.







