Gieo chữ vùng biên: Không chỉ là nghề, đó là sứ mệnh
Giáo viên vùng biên giới gieo chữ vùng cao là những thầy cô chấp nhận xa gia đình, vượt hàng chục đến hàng trăm kilômét đường núi, bám bản, bám lớp để mang cơ hội học hành đến cho trẻ em miền núi, góp phần xóa mù chữ miền núi và giữ chân thế hệ trẻ ở lại xây dựng quê hương. Họ không chỉ dạy chữ, mà còn là cầu nối giúp học sinh bước ra khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo đói, hủ tục và thiệt thòi trong giáo dục vùng cao. Khi nhiều người vẫn xem miền núi biên giới là vùng trũng, những giáo viên vùng biên giới này đang âm thầm biến các bản làng như Lòm, Chiềng Công, Tà Xùa thành những lớp học hy vọng. Đó không phải câu chuyện lãng mạn, mà là lựa chọn đầy ý thức: đặt tương lai trẻ em lên trên sự an nhàn của chính mình.

Con đường 100km vào bản Lòm và những lớp học không thể bỏ
Muốn vào bản Lòm, xã Dân Hóa để “gieo chữ”, nhiều giáo viên phải dậy từ 4 giờ sáng, vượt gần 100km đường đèo dốc, khe suối, đoạn đường sạt lở. Đây không phải chuyến đi trải nghiệm, mà là nhịp sống đều đặn của giáo viên Trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và THCS số 3 Dân Hóa – nơi có 35 lớp tại 7 điểm trường, gần 500 học sinh, riêng điểm bản Lòm xa nhất có 5 lớp, 70 học sinh và 7 giáo viên. Nhắc lại con đường Ka Định, Cáp Pi, Hà Nôông, nhiều thầy cô vẫn rùng mình vì từng phải khiêng xe qua ngầm tràn trong dòng nước xiết. Thế nhưng họ vẫn quay lại, bởi bỏ lớp nghĩa là bỏ cả một thế hệ học sinh đã từng “chưa biết chữ” ngay trên quê hương mình. Giáo dục vùng cao ở đây là câu chuyện kiên trì, không phải phong trào.
Chiềng Công, Tà Xùa: Khi trường phổ thông dân tộc là trụ cột của cả vùng
Ở Chiềng Hoa, muốn đến Trường PTDT bán trú Tiểu học và THCS Chiềng Công, phải mất gần một giờ vượt 13km đường đất đá lởm chởm, dốc nối dốc. Ngôi trường hợp nhất từ hai trường bán trú, nay phải quản lý một điểm trung tâm, một phân hiệu và 8 điểm trường lẻ rải khắp các bản. Năm học 2026–2027, trường có 64 cán bộ, giáo viên, nhân viên; 45 lớp với 1.422 học sinh, trong đó tiểu học 33 lớp, 826 em; THCS 12 lớp, 596 em. Địa bàn rộng, điểm trường phân tán, lại thiếu 14 giáo viên theo biên chế, thiếu 8 phòng học, 10 phòng ở bán trú, kho gạo, 4 phòng công vụ và công trình vệ sinh. Vậy mà họ vẫn bám lớp, bám trường, thắp lên ước mơ cho học sinh vùng cao Chiềng Hoa. Đây chính là vai trò không thể thay thế của trường phổ thông dân tộc trong mạng lưới giáo dục vùng cao.
Câu chuyện tương tự diễn ra ở Trường Tiểu học dân tộc bán trú Tà Xùa, được hình thành từ sáp nhập Trường Tiểu học và THCS Tà Xùa với Tiểu học Làng Chiếu. Năm học 2026–2027, trường có 1.022 học sinh, 39 lớp, gồm một điểm trung tâm, một phân hiệu và bảy điểm lẻ. 100% học sinh là con em dân tộc Mông, nên nhà trường phải tổ chức tăng cường tiếng Việt một tháng trước năm học, lồng ghép luyện tiếng Việt trong mọi hoạt động. Giáo viên vùng biên giới ở đây không chỉ dạy kiến thức, mà còn mở cánh cửa ngôn ngữ, giúp trẻ em dân tộc thiểu số đủ tự tin bước vào hệ thống giáo dục chung.
Trường nội trú vùng cao: Hạt nhân giữ chân học sinh và ươm mầm tương lai
Nếu các điểm trường lẻ là cánh tay vươn đến từng bản, thì hệ thống trường phổ thông nội trú, bán trú vùng biên chính là “trái tim” của giáo dục vùng cao. Tại một trường nội trú tiểu học và THCS ở Mường Khương, ngày 5/9 là dấu mốc đáng nhớ khi học sinh bước vào các lớp học mới khang trang, đồng bộ phòng học, nhà nội trú, nhà ăn, sân thể thao và thiết bị. Ở đây, con em hộ nghèo như em Tráng Thanh Trúc được ở nội trú, có giường tầng, tủ riêng, được chăm lo ăn ở để yên tâm học tập. Theo bài viết, khi ngày càng nhiều học sinh vùng cao được học tập trong điều kiện tốt hơn, có nghề nghiệp và có cơ hội trở về đóng góp cho quê hương, vùng biên sẽ có thêm nguồn lực phát triển. Trường phổ thông dân tộc nội trú không chỉ là nơi học, mà là đòn bẩy lâu dài để giữ người trẻ ở lại vùng cao bằng tri thức.
Ngay tại Chiềng Công, để bảo đảm dạy và học, nhà trường phải hợp đồng 7 giáo viên bộ môn, huy động xã hội hóa tu sửa nhà lớp học, phòng ở bán trú. Ở Tà Xùa, dù thiếu giáo viên tiếng Anh và một giáo viên giáo dục công dân, nhà trường vẫn áp dụng công nghệ thông tin, dùng hình ảnh, video để giúp học sinh dễ tiếp thu, ghi nhớ kiến thức. Những thay đổi tích cực ấy trở thành động lực để thầy cô tiếp tục kiên trì, mở rộng cơ hội học tập cho học sinh vùng cao. Đây chính là minh chứng sống động cho thấy, dù hạ tầng còn thiếu, nhưng khi giáo viên vùng biên giới và cộng đồng cùng gánh, giáo dục vùng cao vẫn có thể tiến lên.
Giữ con chữ là giữ tương lai vùng biên
Nhiều người nghĩ xóa mù chữ miền núi chỉ là dạy “a, b, c”, nhưng những gì diễn ra ở bản Lòm, Chiềng Công, Tà Xùa cho thấy đó là cả một chiến lược phát triển vùng biên. Giáo viên cắm bản không chỉ dạy chữ mà còn đến từng nhà vận động phụ huynh cho con đi học, tuyên truyền bỏ hủ tục, giữ vệ sinh, ổn định cuộc sống. Vấn đề học sinh bỏ học giữa chừng luôn là nỗi trăn trở, nên mỗi em quay lại lớp là một thắng lợi thực sự đối với thầy cô. Với sự gắn bó, mỗi mùa mưa lũ, đường bị cô lập, lương thực cạn, giáo viên vẫn được người dân cưu mang, sẻ chia. Đó là sự cộng sinh đẹp đẽ giữa nhà trường và cộng đồng. Giữ được con chữ, họ đang giữ luôn đường biên, giữ luôn tương lai kinh tế – xã hội của những vùng đất tưởng chừng bị bỏ quên.






