Giáo viên vùng sâu: khi đến lớp là cả một cuộc hành trình
Giáo viên vùng sâu ở xã Hướng Phùng, Quảng Trị là những người mỗi ngày phải băng rừng, lội suối, vượt những đoạn đường đứt gãy, bùn lầy và hố sâu chỉ để làm điều tưởng như rất bình thường: đến trường dạy học cho học sinh đồng bào Vân Kiều ở các trường học vùng cao Cát và Trỉa, nơi giáo dục vùng khó phụ thuộc gần như hoàn toàn vào sự tận tâm của thầy cô và tình người của cộng đồng địa phương. Đây không phải là câu chuyện lãng mạn mà là thực tế khắc nghiệt diễn ra từng tuần, từng mùa mưa lũ.
Nhìn vào Cát Trỉa, ta thấy rõ một nghịch lý: để tiếp cận quyền học tập cơ bản, nhiều em nhỏ phải trông chờ sức bền của giáo viên vùng sâu hơn là bất kỳ tuyến đường kiên cố nào. Cô giáo Nguyễn Thị Lệ Quỳnh, bắt đầu công tác tại điểm trường Cát thuộc Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Hướng Sơn khi mới 27 tuổi, không chỉ bước vào nghề mà còn bước vào một hành trình gian nan mang tên “đến lớp”. Đó là hành trình mà mỗi mét đường hư hỏng là một phép thử đối với quyết tâm bám trường, bám lớp.

Những cung đường bùn lầy, hố sâu và nỗi lo bị cô lập
Sau trận lũ lịch sử, tuyến đường từ Km27 Quốc lộ 9 vào thôn Cát Trỉa dài 18km bị nước cuốn trôi, đứt gãy gần 10 vị trí. Khoảng 6 năm qua, nhiều đoạn xuất hiện hố sâu, vực thẳm, có nơi sâu khoảng 5m, có điểm hơn 20m. Từ một con đường mà xe máy chỉ mất chừng nửa giờ để vào thôn, ô tô có thể chạy tới tận bản, Cát Trỉa giờ biến thành địa bàn luôn có nguy cơ bị cô lập khi mưa lớn, buộc người dân và giáo viên phải men theo đường mòn trong rừng, băng suối mới ra vào được thôn.
Cô Quỳnh và đồng nghiệp có hai lựa chọn chẳng mấy dễ dàng: đi đường chính từ trung tâm xã Hướng Phùng theo Quốc lộ 9 đến Km27 rồi vào Cát Trỉa, quãng đường tổng cộng khoảng 85km; hoặc chấp nhận men theo đường đất, băng rừng, vượt suối với quãng đường khoảng 31km mỗi khi thời tiết xấu, đường chính bị chia cắt. Đường nhão nhoét bùn, cầu bị cuốn trôi, nhiều đoạn chỉ có thể đi bộ, xe máy bị bùn đất quấn chặt bánh xe, có chỗ phải 4–5 người cùng đẩy, thậm chí khiêng xe mới qua được. Giáo dục vùng khó không phải khẩu hiệu; nó là cảm giác bất an khi mỗi chuyến đến lớp đều tiềm ẩn nguy hiểm.

Tình người ở Cát Trỉa: cộng đồng nâng bước giáo viên tận tâm
Giữa những cung đường hiểm trở ấy, điều níu chân giáo viên vùng sâu không chỉ là lương tâm nghề nghiệp mà còn là tình người của cộng đồng Vân Kiều. Thôn Cát Trỉa có 175 hộ với hơn 500 nhân khẩu, 100% là đồng bào Vân Kiều. Mỗi khi đường bị ngập nước, sạt lở, người dân lại tự nguyện góp sức: khiêng xe máy qua suối, đẩy xe qua đoạn tràn nước chảy xiết, tạo lối đi tạm ở các điểm sạt lở nghiêm trọng. Những hình ảnh người dân gồng mình kéo xe, dầm mình trong nước lạnh cùng giáo viên không chỉ “xúc động” theo nghĩa báo chí, mà là minh chứng rằng trường học vùng cao không thể tồn tại nếu thiếu bàn tay của cả bản làng.
Hiệu trưởng Nguyễn Đình Sâm – người trực tiếp chứng kiến hành trình của 3 cô giáo và 6 thầy giáo đang giảng dạy cho 118 học sinh tại hai điểm trường Cát và Trỉa – thừa nhận: nếu không có bà con, nhiều hôm giáo viên chưa chắc đã đến được lớp. Đây là một câu nói nên được trích lại nhiều lần, bởi nó chỉ ra sự thật khó chịu: cơ sở hạ tầng đã bỏ quên nơi này, và chính cộng đồng phải làm “cây cầu sống” cho giáo dục. Giáo viên tận tâm, nhưng nếu không có sự đồng hành của người dân, sự tận tâm ấy sẽ bị đánh gục bởi mưa lũ và hố sâu.

Sau mỗi chuyến đi là những đứa trẻ Vân Kiều đang chờ cô
Đằng sau đôi ủng dính bùn và những chuyến đi kéo dài hàng giờ là câu chuyện rất riêng của mỗi giáo viên. Nhà cô Quỳnh ở khu vực trung tâm xã Hướng Phùng, có con gái 5 tuổi phải gửi bà ngoại chăm để yên tâm công tác. Chiều thứ 6, cô trở về, ôm con, nghe con kể chuyện; chiều chủ nhật hoặc sáng thứ 2, cô lại lên đường, để lại sau lưng tiếng khóc nức nở của đứa trẻ không muốn xa mẹ. “Nhìn con khóc cũng thương lắm, nhưng mình là giáo viên, các em học sinh vẫn đang chờ”, lời tâm sự ấy không phải để được khen ngợi, mà để nhắc chúng ta rằng giáo viên vùng sâu đang trả giá bằng thời gian gia đình cho quyền học tập của những đứa trẻ khác.
Ở Cát và Trỉa, mỗi lớp học của học sinh Vân Kiều là kết quả của vô số lần thầy cô xuống xe, lội bùn, băng rừng, vượt suối. Cô Quỳnh cùng 14 giáo viên khác ở cấp tiểu học và mầm non đã nỗ lực rất nhiều để bám trường, bám lớp “gieo chữ” giữa núi rừng. Giáo dục vùng khó ở đây không chỉ dạy chữ, mà còn mở cánh cửa đầu tiên để trẻ em dân tộc thiểu số bước ra khỏi vòng luẩn quẩn nghèo khó – nhưng cánh cửa ấy hiện đang dựng trên một nền đất gồ ghề, thiếu hạ tầng, nơi mỗi trận mưa lớn có thể biến việc đến lớp thành một cuộc đánh cược.

Con đường cho giáo dục vùng khó: không thể chỉ trông chờ vào hy sinh
Sẽ là sai lầm nếu nhìn câu chuyện giáo viên vùng sâu ở Cát Trỉa như một bức tranh cảm động rồi khép lại bằng vài lời khen. Khi một tuyến đường 18km bị hư hỏng nghiêm trọng, xuất hiện hố sâu, vực thẳm suốt nhiều năm, đó là vấn đề chính sách chứ không phải “chuyện thương tâm” để kể mãi. Với những người như cô Nguyễn Thị Lệ Quỳnh, một con đường được sửa chữa không chỉ giúp hành trình đến trường bớt nhọc nhằn mà còn bảo đảm những chuyến xe an toàn hơn đến bản làng vùng cao, giúp học sinh đến lớp thuận lợi, người dân kịp đưa người bệnh tới cơ sở y tế và mở thêm cơ hội phát triển kinh tế cho vùng đất này.
Khi hiệu trưởng phải lên tiếng mong muốn chính quyền sớm sửa tuyến đường từ Km27 Quốc lộ 9 vào hai điểm trường để giáo viên, học sinh và người dân đi lại thuận tiện, an toàn hơn, đó là lời nhắc trực diện rằng sự tận tâm của giáo viên vùng sâu không nên bị xem như giải pháp lâu dài cho lỗ hổng hạ tầng. Nếu chúng ta coi việc thầy cô băng rừng lội suối là “chuyện bình thường”, thì đồng nghĩa chấp nhận việc trẻ em Vân Kiều ở Cát Trỉa tiếp tục học trong nỗi bất an và phụ thuộc vào may mắn mỗi mùa mưa lũ. Giáo viên tận tâm là tài sản quý của giáo dục vùng khó, nhưng trách nhiệm xây dựng con đường an toàn tới trường là việc của cả hệ thống, không thể mãi đặt lên vai những người đang lặng lẽ gieo chữ giữa rừng.







