Từ ưu đãi rời rạc đến cơ chế có mục tiêu
Cơ chế đặc thù phát triển du lịch là nhóm chính sách được đề xuất để tháo gỡ rào cản thể chế, huy động nguồn lực xã hội và tạo điều kiện cho ngành du lịch tăng sức cạnh tranh, chứ không phải ưu đãi đại trà cho mọi dự án. Ngày 26/10/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức hội nghị lấy ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội tại Hà Nội. Điểm đáng chú ý là dự thảo đặt Nhà nước vào vai trò kiến tạo, còn địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng tham gia tạo sản phẩm, việc làm và lợi ích. Hướng đi này hợp lý: nếu nút thắt là vốn, chi phí và thủ tục, lời kêu gọi tăng trưởng sẽ không đủ. Tuy nhiên, chính sách chỉ tạo được chuyển biến khi điều kiện thụ hưởng rõ, kết quả được đo lường và hỗ trợ không biến thành đặc quyền thiếu giám sát.
Dự thảo gồm 12 điều và được thiết kế có trọng tâm cho trung tâm du lịch lớn, khu du lịch quốc gia, địa bàn du lịch cộng đồng và vùng khó khăn. Mục tiêu không chỉ là thu hút đầu tư du lịch, mà còn giảm chi phí kinh doanh, mở rộng cơ hội tham gia và tăng thời gian lưu trú, mức chi tiêu của khách. Đây là cách tiếp cận đáng thử vì số dự án hay lượt khách tự thân chưa phản ánh đầy đủ giá trị ngành tạo ra. Bài kiểm tra thực sự là lợi ích có lan tới doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cư dân địa phương hay không.

Ưu đãi đầu tư phải đổi lấy giá trị du lịch
Dự thảo phân loại dự án thành ba nhóm: du lịch chất lượng cao, du lịch động lực và du lịch động lực mang tính chiến lược. Vốn đầu tư tối thiểu được đề xuất lần lượt là 3.000 tỷ đồng, 10.000 tỷ đồng và 30.000 tỷ đồng; phần vốn dành cho hạng mục du lịch tối thiểu tương ứng là 1.000 tỷ đồng, 2.000 tỷ đồng và 5.000 tỷ đồng. Với các địa bàn khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, một phương án tham vấn đề xuất giảm một nửa ngưỡng vốn và lao động. Cách phân tầng có thể hướng ưu đãi vào dự án đủ sức tạo điểm đến mới, thay vì phân tán nguồn lực. Nhưng quy mô vốn không đồng nghĩa với sức hút: tiêu chí cần ưu tiên chất lượng sản phẩm, việc làm ổn định và khả năng kết nối với kinh tế địa phương.
Một phương án nêu mức lao động thường xuyên tối thiểu 1.000, 1.500 và 2.000 người theo ba nhóm dự án. Dự án du lịch động lực có thể được hưởng ưu đãi tiền thuê đất và thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 10 năm. Tuy nhiên, đại diện Vụ Pháp chế Bộ Tài chính lưu ý các ưu đãi thuế cao hơn luật hiện hành phải được giải trình, đồng thời cần tính đến Thuế tối thiểu toàn cầu 15% để tránh ưu đãi mất hiệu lực. Dự thảo cũng loại trừ casino, trò chơi điện tử có thưởng, đặt cược, sân golf và dự án gắn với mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc tài sản trên đất. Các giới hạn này cho thấy ưu đãi cần gắn với giá trị du lịch, không chỉ với quy mô đầu tư.

Hạ tầng, visa và nhân lực quyết định trải nghiệm
Ưu đãi cho dự án khó phát huy tác dụng nếu khách không thể đi lại thuận tiện, kết nối ổn định hoặc tìm được dịch vụ phù hợp. Dự thảo định hướng ngân sách cho hạ tầng thiết yếu, kết nối các trung tâm du lịch trọng điểm và mở rộng phủ sóng 5G tại 100% khu du lịch quốc gia. Đây là nền tảng để phát triển sản phẩm mới, từ trải nghiệm tại điểm đến đến dịch vụ số. Chính sách thị thực cũng được nghiên cứu theo hướng mở rộng miễn thị thực linh hoạt theo thị trường, ưu tiên khách chi tiêu cao và lưu trú dài ngày; visa du lịch thuận tiện có thể giúp kéo dài hành trình và tăng chi tiêu. Dù vậy, mở rộng cần hài hòa với yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội.
Nhân lực là mắt xích không thể thay bằng công trình hay ưu đãi thuế. Dự thảo nêu hướng đầu tư vào con người, hỗ trợ đào tạo, nhất là cho lao động nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời xem xét ưu đãi thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia, nhân lực chất lượng cao và bố trí nhà ở cho người lao động tại dự án du lịch. Với doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và người dân làm du lịch cộng đồng, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi số, quảng bá và kết nối thị trường được định hướng chú trọng ở miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và nông thôn. Nếu chính sách chỉ phục vụ các dự án lớn, ngành có thể tăng vốn mà không tăng năng lực phục vụ tại chỗ.

Cần thử nghiệm, đo kết quả và giữ đúng trạng thái dự thảo
Một điểm đáng quan tâm là đề xuất cho phép Chính phủ lựa chọn địa bàn thử nghiệm có kiểm soát các mô hình kinh doanh mới trong 3–5 năm, đánh giá rồi mới xem xét nhân rộng. Thử nghiệm có giới hạn tốt hơn áp dụng đồng loạt khi chưa biết mô hình nào phù hợp từng địa phương. Song việc đánh giá cần nhìn vào chất lượng việc làm, mức tham gia của cộng đồng, thời gian lưu trú và tác động tới môi trường, thay vì chỉ đếm dự án hoặc lượt khách. Cơ chế du lịch chỉ đáng gọi là đột phá nếu nó giảm được chi phí thực tế cho doanh nghiệp mà vẫn bảo đảm lợi ích công.
Điều cần nói rõ: đây vẫn là dự thảo đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lấy ý kiến trước khi hoàn thiện hồ sơ trình Quốc hội xem xét, chưa phải chính sách đã có hiệu lực. Quá trình tham vấn tập trung vào 7 nhóm chính sách với 21 vấn đề; doanh nghiệp và hiệp hội được đề nghị góp ý từ vướng mắc thực tế. Vì vậy, các đề xuất về đầu tư, hạ tầng, visa và nhân lực chưa thể xem là quyền lợi đã được bảo đảm. Kết luận hợp lý lúc này là hướng đi có tiềm năng, nhưng chất lượng chính sách du lịch sẽ phụ thuộc vào thiết kế điều kiện, giám sát và cách phân bổ lợi ích khi dự thảo được xem xét.







