Luật Phát triển đô thị: Từ quản lý dân cư đến kiến tạo động lực tăng trưởng
Luật Phát triển đô thị là khung pháp lý mới định hướng các đô thị chuyển từ vai trò quản lý dân cư và xử lý hệ quả đô thị hóa sang vai trò trở thành động lực tăng trưởng kinh tế – xã hội, thông qua phân quyền thành phố mạnh hơn, cơ chế huy động nguồn lực đa dạng và mô hình phát triển linh hoạt gắn với lợi thế từng địa phương. Từ ngày 1/10, luật phát triển đô thị chính thức có hiệu lực, mở thêm dư địa phân quyền, huy động nguồn lực và tổ chức các mô hình phát triển mới. Không còn chỉ là câu chuyện chống ùn tắc, ngập nước hay quá tải dịch vụ công, bài toán đặt ra là đô thị phải tự kiến tạo không gian phát triển, trở thành cực tăng trưởng mới, lan tỏa giá trị ra vùng xung quanh. Đây là bước chuyển mang tính định hướng: ai chủ động được nguồn lực và quản trị tốt hơn, người đó sẽ chiếm ưu thế trong cuộc cạnh tranh đô thị.
Phân quyền thành phố và cơ chế huy động nguồn lực: Cơ hội bứt phá hay nguy cơ phân mảnh?
Các đô thị Việt Nam đang mắc kẹt trong tình trạng nguồn lực bị chia cắt: đất đai, hạ tầng, giao thông, đầu tư và quy hoạch nhiều khi ở các quy trình khác nhau, khiến một dự án mất rất lâu để hoàn thiện. Luật phát triển đô thị đi thẳng vào điểm nghẽn đó bằng cách tăng phân cấp, phân quyền cho chính quyền thành phố, cho phép địa phương chủ động hơn trong quy hoạch, lựa chọn mô hình phát triển và tổ chức thực hiện. Nhờ vậy, đô thị có điều kiện huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho hạ tầng, thu hút đầu tư, bảo đảm an sinh và nâng chất lượng sống. Tuy nhiên, phân quyền thành phố không đồng nghĩa địa phương được quyết nhanh bằng mọi giá. Nếu năng lực quy hoạch, minh bạch và giải trình không theo kịp, các quyết định vội vã có thể tạo ra phát triển méo mó, lợi ích nhóm hoặc bất bình đẳng không gian. Cơ hội bứt phá chỉ thành hiện thực nếu quyền đi cùng trách nhiệm và chuẩn quản trị.
TP.HCM: Đô thị đầu tàu thử nghiệm cơ chế tự chủ tài chính thế hệ mới
Trong số các đô thị được hưởng lợi từ luật phát triển đô thị, TP.HCM rõ ràng là phòng thí nghiệm lớn nhất cho cơ chế tự chủ nguồn lực. Một trong những thay đổi đáng chú ý là mở rộng nguồn thu trực tiếp cho Thành phố, ngân sách được hưởng toàn bộ các khoản thu từ giao dịch tín chỉ carbon và khai thác quỹ đất tại khu vực TOD gắn với đường sắt đô thị. Bên cạnh TOD và tín chỉ carbon, luật còn xác định các khoản thu khác theo luật nhưng chưa được quy định trong pháp luật về ngân sách nhà nước là nguồn thu mà TP.HCM được hưởng toàn bộ, đồng thời mở đường phát triển trái phiếu đô thị, trái phiếu dự án và các giao dịch tài chính thế hệ mới. Điểm đáng chú ý là luật không chỉ trao thêm nguồn lực mà tạo khuôn khổ để Thành phố chủ động hơn trong việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Nếu TP.HCM quản trị tốt các cơ chế này, đây có thể trở thành mẫu hình cho các cực tăng trưởng mới; nếu không, rủi ro tài chính và bất bình đẳng không gian sẽ xuất hiện.
Từ cực tăng trưởng mới đến đời sống người dân: Đo lường bằng chất lượng chứ không phải mét vuông xây dựng
Luật phát triển đô thị được kỳ vọng giúp các đô thị tháo gỡ điểm nghẽn, nâng năng lực quản trị và hình thành những cực tăng trưởng mới. Nhưng một cực tăng trưởng chỉ có ý nghĩa nếu người dân được hưởng lợi thực chất. Thước đo cuối cùng không chỉ là số dự án, số mét vuông xây dựng hay tổng vốn đầu tư; đó phải là thời gian đi lại được rút ngắn, giao thông công cộng thuận tiện hơn, hạ tầng đồng bộ, doanh nghiệp giảm chi phí thủ tục, không gian xanh mở rộng và chất lượng sống cải thiện. Bởi vậy, đích đến của chính sách không nên là tạo ra thêm những khu bất động sản có giá trị cao, mà phải là những khu đô thị thuận tiện hơn cho người dân. Khi một đô thị lớn phát triển, giá trị tạo ra lan sang khu vực vệ tinh qua giao thông, logistics, việc làm và chuỗi cung ứng; địa phương nào biết chủ động nắm bắt sự lan tỏa này mới có cơ hội trở thành cực tăng trưởng mới thay vì chỉ làm "vùng phụ trợ".
Thách thức thực thi: Khoảng cách vùng miền và áp lực chuyển đổi mô hình quản trị
Câu hỏi không phải là có nên phân quyền hay không, mà là liệu các địa phương có đủ năng lực để biến quyền thành kết quả. Nhu cầu vốn cho đường sắt đô thị, vành đai, giao thông kết nối, chống ngập, xử lý nước thải, chỉnh trang đô thị và không gian công cộng đều rất lớn, trong khi ngân sách nhà nước khó thể đáp ứng toàn bộ. Điều này khiến bài toán huy động nguồn lực trở nên cấp bách, nhưng cũng dễ tạo chênh lệch giữa các đô thị có nền tảng tài chính mạnh như TP.HCM và những địa phương còn hạn chế. Thực tế, quá trình chuẩn bị cho giai đoạn luật có hiệu lực đã được triển khai: các cơ quan đang dự thảo hàng chục nghị quyết của HĐND để kịp ban hành khi luật có hiệu lực từ ngày 1/10, với yêu cầu rõ người, rõ thời gian, rõ tiến độ, trách nhiệm và sản phẩm cụ thể; Thành phố nhận định không chờ nghị định hướng dẫn mà phải bắt tay ngay vào thực hiện. Đây là tín hiệu tích cực, nhưng nếu các địa phương khác không có mức độ chủ động tương đương, khoảng cách vùng miền sẽ nới rộng.






