Tỉnh biên giới phát triển: Khi địa kinh tế trở thành “vốn mồi” cho doanh nghiệp
Tỉnh biên giới phát triển là cách một địa phương giáp ranh, có cửa khẩu và hành lang giao thương, chủ động biến vị trí địa kinh tế thành lợi thế cạnh tranh và môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân mở rộng đầu tư, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng địa phương. Lào Cai, Sơn La, Lạng Sơn đang cho thấy một lựa chọn khác với tư duy cũ: thay vì quản lý chặt theo kiểu xin–cho, họ chấp nhận đứng ra tháo gỡ nút thắt vốn, đất đai và thủ tục để doanh nghiệp tư nhân trở thành động lực tăng trưởng chính. Câu hỏi không còn là “có hỗ trợ hay không”, mà là hỗ trợ thế nào để mỗi đồng vốn, mỗi mét đất biên giới chuyển thành năng lực cạnh tranh thực chất cho doanh nghiệp.

Lào Cai: Tháo nút thắt vốn, đất và thủ tục để giữ đà tăng trưởng hai con số
Lào Cai hiện có hơn 13.000 doanh nghiệp, tạo việc làm cho trên 200.000 lao động, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 65% tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn. Với cấu trúc như vậy, nếu không tháo gỡ kịp thời, mọi nút thắt về quỹ đất, vốn và thủ tục sẽ nhanh chóng bóp nghẹt tham vọng tăng trưởng hai con số mà tỉnh đặt ra cho giai đoạn 2026–2030. Điểm đáng chú ý là Thường trực Tỉnh ủy yêu cầu các cấp, ngành “đổi cách vận hành, thực sự đồng hành” với doanh nghiệp, tập trung vào hai điểm nghẽn cốt lõi là thủ tục hành chính và dòng tiền. Thuế được số hóa khai–nộp, chính sách giảm tiền thuê đất được giải quyết dứt điểm; tỉnh đồng thời theo sát việc giảm lãi suất, kết nối nguồn vốn ưu đãi vào lĩnh vực sản xuất chủ lực. Mục tiêu 20.000–30.000 doanh nghiệp giai đoạn 2030–2050 chỉ có ý nghĩa khi những chính sách này chạm vào thực tế chi phí đất, logistics và lãi vay vốn đang là gánh nặng.
Lạng Sơn: Biến lợi thế cửa khẩu kinh tế thành năng lực cạnh tranh thông qua cải cách
Lạng Sơn sở hữu vị trí chiến lược trên hành lang Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng, là cửa ngõ giao thương huyết mạch giữa Việt Nam, các nước ASEAN với thị trường Trung Quốc. Lợi thế cửa khẩu kinh tế này từng bị bào mòn bởi hạ tầng thiếu đồng bộ và chi phí tuân thủ cao. Khi cụ thể hóa Nghị quyết 68-NQ/TW, tỉnh không dừng ở khẩu hiệu mà chọn cách đo mình bằng mức độ hài lòng của doanh nghiệp. Tỉnh thúc đẩy cải cách hành chính, giảm chi phí tuân thủ, nâng tính dự báo của môi trường kinh doanh và lập Tổ công tác thường xuyên lắng nghe doanh nghiệp, nhận diện điểm nghẽn về thủ tục, đất đai, vốn, tiếp cận thông tin, chuyển đổi số để kịp thời tháo gỡ. Một kế hoạch giải phóng mặt bằng được kỳ vọng khơi thông khoảng 10 dự án liên quan tới 1.000 hộ dân và 1.400 ô tái định cư. Nếu triển khai nhất quán, lợi thế địa kinh tế sẽ không còn là “tiềm năng trên giấy”, mà trở thành nền tảng cho môi trường đầu tư minh bạch, chi phí thấp, củng cố niềm tin của doanh nghiệp tư nhân.
Sơn La: Doanh nhân trẻ và bài toán chuỗi giá trị nông nghiệp, du lịch, cửa khẩu
Tại Sơn La, các vòng đối thoại VPSF địa phương được tổ chức ngày 11/9 cho thấy kinh tế tư nhân đang đứng trước cơ hội và áp lực mới. Sơn La có lợi thế lớn về vùng nguyên liệu nông nghiệp, du lịch, chế biến, năng lượng, kinh tế cửa khẩu và liên kết vùng. Theo đại diện Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, tỉnh đã sẵn sàng phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp theo hướng chế biến sâu, cải thiện môi trường kinh doanh từ những vướng mắc cụ thể, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn với các bài toán bảo quản nông sản, truy xuất nguồn gốc, phát triển sản phẩm du lịch và nâng cao năng lực quản trị cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãnh đạo UBND tỉnh nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo phát triển, chủ động tháo gỡ khó khăn để doanh nghiệp yên tâm mở rộng sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp tập trung phản ánh vướng mắc về đất đai, quy hoạch, mặt bằng, tiếp cận nguồn lực và thủ tục đầu tư – những yếu tố đang trực tiếp cản trở mở rộng quy mô.

Từ đối thoại đến hành động: Điều gì quyết định thành công của kinh tế tư nhân biên giới?
Các diễn đàn VPSF tại Lào Cai, Lạng Sơn, Sơn La không chỉ là nơi phát biểu mà là phép thử cho cam kết “đồng hành cùng doanh nghiệp” của chính quyền địa phương. Nghị quyết 68-NQ/TW trở thành đường gân chính trị buộc bộ máy phải đổi tư duy, từ quản lý sang kiến tạo, từ mệnh lệnh sang đối thoại và giải pháp cụ thể. Điều người dân và doanh nghiệp kỳ vọng là tác động thực: môi trường đầu tư minh bạch, bình đẳng, an toàn, chi phí thấp; niềm tin được củng cố, nguồn lực xã hội được khơi thông, kinh tế tư nhân phát triển nhanh hơn, hiệu quả và bền vững hơn. Tuy nhiên, nếu không duy trì đối thoại định kỳ, không giám sát chặt việc thực thi và không đo lường kết quả bằng số dự án, số doanh nghiệp hưởng lợi, mọi cam kết dễ dừng ở văn bản. Tỉnh biên giới phát triển chỉ xứng đáng với danh hiệu đó khi mỗi cải cách thủ tục, mỗi dự án hạ tầng, mỗi chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đều chuyển thành cơ hội việc làm và thu nhập tốt hơn cho người dân vùng biên.






