Logistics như hạ tầng kinh tế quốc gia, không còn là dịch vụ hỗ trợ
Logistics hành lang kinh tế là mô hình tổ chức vận tải, kho bãi, cảng và dịch vụ hỗ trợ dựa trên các trục kết nối vùng kinh tế, thay vì trùng với địa giới hành chính, nhằm tối ưu dòng hàng hóa, hạ chi phí và nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trong toàn chuỗi cung ứng khu vực.
Chiều 21/9 tại Hải Phòng, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng dự và phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn Logistics Vùng lần VII với chủ đề “Kiến tạo không gian phát triển mới cho logistics Vùng đồng bằng sông Hồng”. Đây không chỉ là một sự kiện kỹ thuật ngành mà là thông điệp chính sách: logistics phải được nhìn như hạ tầng kinh tế quốc gia, thay vì một dịch vụ hậu cần đứng bên lề. Theo ông, trong bối cảnh quy mô thương mại tăng mạnh, chuỗi cung ứng thay đổi nhanh, yêu cầu về tốc độ, chi phí vận chuyển và chuyển đổi số ngày càng cao, cách quản lý cũ đã hết hiệu lực.
Một phát biểu đáng chú ý là: “Logistics không còn chỉ là dịch vụ hỗ trợ mà cần được nhìn nhận là một bộ phận quan trọng của hạ tầng kinh tế quốc gia, tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của hàng hóa, doanh nghiệp và nền kinh tế”. Câu nói này đặt logistics ngang hàng với đường cao tốc, sân bay, cảng biển trong tư duy phát triển.

Vì sao phải thoát khỏi tư duy logistics theo địa giới hành chính?
Tư duy “mỗi tỉnh một hệ thống logistics riêng” đã tạo ra mạng lưới chắp vá, đứt đoạn. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ phát triển logistics theo địa giới hành chính sang tổ chức theo vùng kinh tế, hành lang kinh tế và chuỗi cung ứng. Nói cách khác, dòng hàng hóa không dừng lại ở cột mốc tỉnh, thì hệ thống logistics cũng không thể bị khoanh lại trong ranh giới hành chính.
Thực tế, dịch vụ logistics Việt Nam tăng trưởng bình quân 14-16%/năm, đóng góp trực tiếp khoảng 4,5-5% GDP. Ở vùng đồng bằng sông Hồng, Hải Phòng cho thấy tốc độ tăng trưởng dịch vụ logistics trên 10% trong giai đoạn 2021-2025, đóng góp khoảng 13,5% GRDP. Nhưng phía sau những con số đẹp là chi phí logistics vẫn cao, kết nối giữa các phương thức vận tải còn hạn chế, thời gian thông quan dài, năng lực số và chất lượng nhân lực chưa theo kịp.
Khi mỗi địa phương cố xây một hệ thống khép kín, hệ quả là cảng biển, kho bãi, trung tâm logistics trùng lặp, đầu tư phân tán, chuỗi cung ứng khu vực không liền mạch. Chủ trương logistics hành lang kinh tế buộc các địa phương phải chia sẻ hạ tầng, cùng khai thác những trục Bắc – Nam, Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và vành đai ven biển như bộ xương sống của không gian logistics vùng.
Tháo điểm nghẽn hạ tầng, thể chế và kết nối: điều kiện để tư duy mới thành hiện thực
Không thể nói đến phát triển vùng logistics nếu hạ tầng vẫn manh mún. Phó Thủ tướng chỉ ra các điểm nghẽn: vận tải hàng hóa vẫn chủ yếu bằng đường bộ, năng lực các phương thức vận tải lớn chưa được khai thác tương xứng, kết nối giữa giao thông, khu vực sản xuất, kho vận và cảng biển còn hạn chế, chi phí logistics vẫn cao. Đây chính là ba nút thắt: hạ tầng, thể chế và kết nối.
Để gỡ nút thắt, ông yêu cầu phát triển hạ tầng logistics đồng bộ với hệ thống giao thông quốc gia và khu vực; tăng kết nối giữa đường bộ, đường sắt, hàng hải, đường thủy và hàng không; đồng thời hoàn thiện thể chế, đơn giản hóa thủ tục, tăng kết nối và chia sẻ dữ liệu. Hệ thống cảng biển phải phát triển theo hướng hiện đại, xanh, thông minh. Đây là tư duy coi logistics là hạ tầng kinh tế quốc gia: không chỉ thêm nhà kho, mà cả luật chơi, hệ thống dữ liệu, tiêu chuẩn xanh đều phải nâng cấp.
Chiến lược phát triển dịch vụ logistics thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến 2050 đặt mục tiêu tăng trưởng logistics bình quân 12-15%/năm, giảm chi phí logistics xuống khoảng 12-15% GDP, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hình thành các trung tâm logistics hiện đại. Câu hỏi không còn là ‘có làm hay không’, mà là ‘làm đủ sâu và đủ nhanh’ để các hành lang kinh tế thực sự kéo chuỗi cung ứng khu vực đi lên.
Đồng bằng sông Hồng: phòng thí nghiệm cho mô hình logistics hành lang kinh tế
Diễn đàn Logistics Vùng lần VII tập trung vào chủ đề “Kiến tạo không gian phát triển mới cho logistics Vùng đồng bằng sông Hồng”. Đây là lựa chọn có chủ ý: vùng này là cửa ngõ kết nối phía Bắc với cả nước và thế giới, đồng thời là nơi hội tụ đủ cả cảng biển nước sâu, đường sắt, đường bộ cao tốc và các khu công nghiệp lớn. Nếu không tổ chức được logistics hành lang kinh tế ở đây, khó nơi nào khác làm tốt hơn.
Yêu cầu đặt ra là hình thành mạng lưới phát triển vùng logistics gắn kết chặt chẽ, phát huy vai trò từng địa phương, trong đó Hải Phòng giữ vai trò cửa ngõ hàng hải và trung tâm logistics quốc tế phía Bắc. Thành phố đã quy hoạch 73 bến cảng biển với tổng chiều dài hơn 23 km, trên 300 cảng, bến thủy nội địa, tiếp tục mở rộng khu bến cảng Lạch Huyện như cảng nước sâu lớn và trung tâm thông thương quốc tế của miền Bắc.
Trong giai đoạn tới, Hải Phòng xác định ưu tiên cảng nước sâu Lạch Huyện, cảng Nam Đồ Sơn, mở rộng Cảng hàng không quốc tế Cát Bi, tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng cùng các tuyến cao tốc, vành đai và kết nối liên vùng. Nếu được đặt trong khung logistics hành lang kinh tế, các dự án này sẽ trở thành những nút kết nối của một chuỗi cung ứng khu vực liền mạch, thay vì các công trình rời rạc trong từng địa phương.
Từ khẩu hiệu tới hành động: điều gì sẽ quyết định thành bại?
Phó Thủ tướng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn 2050 một cách thực chất, có trọng tâm, trọng điểm và có kết quả đo lường được. Nghĩa là, câu chuyện logistics hành lang kinh tế không thể dừng ở diễn đàn, mà phải được cụ thể hóa bằng các dự án hạ tầng, cải cách thủ tục, cơ chế phối hợp vùng và các bộ chỉ số đánh giá rõ ràng.
Ông cũng nhấn mạnh các địa phương không thể phát triển hệ thống logistics khép kín mà cần tăng cường đồng bộ, kết nối và chia sẻ hiệu quả. Các hành lang kết nối Bắc – Nam, Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và vành đai ven biển được xác định là trục quan trọng trong tổ chức không gian logistics của vùng. Đối với doanh nghiệp, thông điệp là phải chủ động đề xuất giải pháp, đổi mới công nghệ, đầu tư nguồn nhân lực và nâng chất lượng dịch vụ, thay vì chỉ phản ánh khó khăn.
Kết luận hợp lý cho bước chuyển này là: hoặc Việt Nam tổ chức lại hệ thống logistics như một phần cốt lõi của hạ tầng kinh tế quốc gia, gắn với phát triển vùng logistics và chuỗi cung ứng khu vực, hoặc chấp nhận bị mắc kẹt trong cấu trúc chi phí cao, kết nối yếu và bỏ lỡ làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Tư duy logistics không ranh giới hành chính chính là phép thử cho năng lực phối hợp vùng và cải cách thể chế ở cấp độ mới.






