Từ mở rộng hạ tầng sang kết nối cả hệ thống
Hạ tầng thông minh là sự kết hợp giữa hạ tầng vật lý, mạng lưới kết nối, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để các hệ thống không chỉ được theo dõi mà còn có thể phân tích tình hình và chủ động điều chỉnh hoạt động. Đây là bước tiếp theo Việt Nam cần tính đến sau thời kỳ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng sản xuất và xây dựng hạ tầng.
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, ông Devendra Jain, Trưởng nhóm AI và Công nghệ tiên phong của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, khuyến nghị ưu tiên phát triển kinh tế kết nối thông minh nhằm phối hợp hiệu quả hơn giữa nhà máy, cảng biển và giao thông. Lời khuyên đáng chú ý vì năng lực cạnh tranh không còn phụ thuộc riêng vào quy mô nhà máy hay tốc độ xây dựng đường sá: hàng hóa cũng phải di chuyển đúng lúc, dữ liệu phải lưu thông được và các mắt xích cần phản ứng đồng bộ.
Khác với hạ tầng số chủ yếu cho phép quan sát, hạ tầng thông minh có thể giúp hệ thống phản ứng theo tình hình thực tế. Nếu giao thông được điều phối theo lưu lượng thay vì lịch cố định, hành trình hàng hóa có cơ hội bớt gián đoạn. Lợi ích ấy tác động đến cả doanh nghiệp lẫn người dân qua việc vận chuyển ổn định hơn và giảm những chậm trễ phát sinh dọc tuyến.

Một hành lang xuất khẩu, nhiều mắt xích phải cùng vận hành
Trọng tâm của đề xuất không phải là số hóa từng nhà máy hay cảng riêng lẻ, mà là tạo lớp điều phối đáng tin cậy dọc hành lang sản xuất – xuất khẩu. Theo ông Jain, cơ hội trước mắt là kết nối nhà máy với đơn vị logistics, cảng cạn và cảng biển, đồng thời xây dựng lớp dùng chung để doanh nghiệp sản xuất, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận công cụ sản xuất thông minh.
Đây là lựa chọn thực dụng hơn việc yêu cầu từng doanh nghiệp tự xây dựng đầy đủ năng lực dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và an ninh mạng. Khi thông tin về sản xuất, vận tải và lưu lượng được chia sẻ theo quy tắc chung, các bên có thể phối hợp kế hoạch tốt hơn; một thay đổi ở nhà máy cũng dễ được tính đến trong khâu logistics và kết nối cảng biển. Tuy vậy, kết nối chỉ có giá trị khi dữ liệu đáng tin cậy và các hệ thống tương thích.
Muốn làm được điều đó, Nhà nước cần tạo khung chính sách và hạ tầng; doanh nghiệp phải tham gia bằng dữ liệu, tài sản và nhu cầu ứng dụng; đơn vị công nghệ xây nền tảng, còn các tổ chức tiêu chuẩn thống nhất quy tắc. Nếu thiếu một bên, hệ thống dễ trở thành tập hợp ứng dụng rời rạc thay vì mạng lưới có khả năng điều phối.
Kết nối tốt hơn phải dẫn đến giá trị cao hơn
Tính cấp thiết nằm ở chỗ chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái định hình, mở cơ hội để Việt Nam nâng vị trí nhưng không bảo đảm lợi thế sẽ tự chuyển thành giá trị gia tăng. Việt Nam đã tham gia sâu vào sản xuất quốc tế, song nếu doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu làm sản xuất, lắp ráp, phần giá trị cao từ công nghệ, thiết kế, vật liệu và thương hiệu sẽ tiếp tục nằm ngoài tầm với.
Vì vậy, hạ tầng thông minh không nên được đánh giá chỉ bằng số lượng kết nối hay thiết bị mới. Tiêu chí quan trọng hơn là liệu doanh nghiệp có thể giảm thời gian phối hợp, tăng năng suất và tham gia các công đoạn tạo giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu hay không. Hạ tầng kết nối không thay thế công nghiệp hỗ trợ, năng lực công nghệ hay đổi mới sáng tạo; nó giúp các năng lực ấy phối hợp hiệu quả hơn.
Hướng đi này có thể dựa trên chương trình thí điểm VSM 70 do Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư tại TP HCM khởi động, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi sản xuất thông minh và nâng sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị. Đây là bước triển khai cụ thể, nhưng kết quả sẽ phụ thuộc vào khả năng mở rộng tiếp cận cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như việc hình thành dữ liệu dùng chung và tiêu chuẩn liên thông.
Thước đo cuối cùng là sức cạnh tranh Việt Nam
Khuyến nghị của chuyên gia WEF đặt ra một ưu tiên rõ ràng: kết nối nhà máy, cảng biển và giao thông thành một hệ thống vận hành chung. Đây không phải dự án công nghệ đứng riêng, mà là nền tảng để hàng hóa đi qua hành lang sản xuất – xuất khẩu trơn tru hơn và để doanh nghiệp có thêm điều kiện cải thiện năng suất.
Muốn nâng sức cạnh tranh Việt Nam, đầu tư vào đường sá và năng lực sản xuất vẫn cần thiết, nhưng chưa đủ. Cần đồng thời thống nhất chuẩn dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng, xây nguồn dữ liệu công nghiệp chất lượng và tạo cơ chế hợp tác giữa khu vực công với tư. Nếu mỗi doanh nghiệp phải tự giải quyết mọi nút thắt, nhóm nhỏ hơn sẽ khó theo kịp.
Kết luận, hạ tầng thông minh chỉ đáng đầu tư khi giúp nền kinh tế phối hợp tốt hơn và doanh nghiệp Việt Nam giữ lại nhiều giá trị hơn. Kết nối cảng biển với nhà máy và giao thông là điểm khởi đầu có sức thuyết phục; đích đến phải là vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, chứ không chỉ là một mạng lưới hiện đại hơn.






