Khai giảng trong lớp tạm và sân trường ngập nước: bức tranh đáng báo động
Những thách thức cơ sở vật chất trường học tại các trường vùng sâu sau khai giảng là tình trạng lớp học xuống cấp, sân trường ngập nước, thiếu thiết bị và sách, buộc nhà trường phải xoay xở bằng các giải pháp tạm bợ, khiến chất lượng giáo dục và an toàn của học sinh bị đe dọa nghiêm trọng. Ngay trong những tuần đầu năm học, thay vì không khí háo hức, nhiều em nhỏ phải bước vào lớp bằng con đường gạch kê qua sân trường ngập nước, ngồi học trong phòng ăn, phòng họp được cải tạo vội vàng. Ở Trường Tiểu học Tô Hiến Thành, 10 trong 11 phòng học phải ngắt điện, tháo bảng để sửa chữa ngay cận ngày khai giảng, hàng trăm học sinh phải học tạm ở phòng ăn, phòng họp, phòng bộ môn. Đó không còn là chuyện “bất tiện” mà là lời cảnh báo rằng cơ sở vật chất trường học đang bị xem nhẹ so với những khẩu hiệu đẹp trên lễ đài.
Lớp học nứt lún, sân trường thành “đường lội”: an toàn bị đặt sau tiến độ
Nếu coi lớp học là không gian tối thiểu để một đứa trẻ được học trong an toàn và tôn trọng, thì những gì đang diễn ra ở nhiều trường vùng sâu là sự vi phạm rõ ràng. Tại Trường Tiểu học và THCS Hòa Thuận, các dãy phòng xây từ những năm 1990 đã hơn 30 năm sử dụng, vách bê tông, tường, cột và nền lớp học đều xuống cấp, nứt, sụt lún, không còn bảo đảm an toàn cho học sinh. Nền phòng học lõm như lòng chảo, giáo viên phải tự kê bàn ghế, xử lý tạm những chỗ nứt để tránh tai nạn. Ngoài phòng học xuống cấp, sân trường thường xuyên ngập khoảng 30 cm, biến thành “đường lội”; ở điểm Hòa An, giáo viên phải bơm nước ra ngoài và kê gạch ống suốt đoạn từ sân vào lớp để học sinh đi lại. Việc sửa chữa bị chia nhỏ, chắp vá khiến cơ cấu công trình không vững, trong khi nguy cơ mất an toàn cho học sinh lại tăng lên từng mùa mưa.
Thiết bị dạy học thiếu hụt, sách giáo khoa không đủ: chất lượng học tập bị cắt xén
Không thể nói về chất lượng giáo dục nếu thiết bị dạy học thiếu hụt và sách giáo khoa vẫn là thứ xa xỉ ở nhiều trường vùng sâu. Tại Trường Mầm non Nhơn Mỹ, thiết bị dạy học vừa thiếu vừa xuống cấp; nhiều ti vi phục vụ giảng dạy được trang bị từ giai đoạn 2005–2010, nay không còn đáp ứng yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Ở nhiều xã như Giồng Riềng, Hòa Thuận, Long Thạnh, đến tận ngày 10/9 vẫn có lớp mà mới chỉ khoảng 30% học sinh có đủ sách giáo khoa; các tiết học cần đọc, theo dõi nội dung và thực hành trên sách bị ảnh hưởng trực tiếp. Việc phải mượn chung một bộ sách, chép tay nội dung hoặc nghe giảng “không có tài liệu đi kèm” khiến học sinh vùng sâu luôn ở thế bất lợi. Trong khi đó, tại Tô Hiến Thành, việc ngắt điện, tháo thiết bị khỏi 10 phòng học khiến nhà trường phải tận dụng phòng ăn, phòng họp làm lớp tạm, đồng nghĩa học sinh mất luôn dịch vụ bán trú. Những thiếu thốn này không chỉ làm giảm chất lượng từng tiết học mà còn gửi đi thông điệp rằng nhu cầu học tập của trẻ em vùng sâu chưa được coi là ưu tiên.
Thiếu giáo viên, gánh nặng chồng chất lên vai học sinh và thầy cô
Cơ sở vật chất yếu kém sẽ còn nhân lên tác hại khi đi cùng tình trạng thiếu giáo viên – điều đang diễn ra ở nhiều trường vùng sâu. Tại Trường Mầm non Nhơn Mỹ, nhà trường còn thiếu tới 28 giáo viên so với định mức. Trong bối cảnh yêu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và bảo đảm an toàn cho trẻ ngày càng cao, mỗi giáo viên phải gánh thêm nhiều phần việc: từ tổ chức hoạt động trải nghiệm, áp dụng công nghệ thông tin tới thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Khi lớp học đã chật, thiết bị lạc hậu, sân trường ngập nước, việc một giáo viên phải quản lý quá nhiều trẻ khiến mọi nguy cơ trở nên khó kiểm soát. Ở cấp tiểu học, việc dồn lớp vào phòng ăn, phòng họp khiến sĩ số trong một không gian tạm càng tăng, tạo áp lực cho thầy cô và biến trải nghiệm học tập của học sinh thành sự “chịu đựng” hơn là khám phá và trưởng thành. “Khó khăn ở trường vùng sâu không chỉ nằm ở những bức tường cũ hay sân trường ngập nước. Đó còn là bài toán nhân lực và điều kiện dạy học” – đó là nhận định mà nếu không được giải quyết, mọi nỗ lực đổi mới chương trình sẽ khó đi tới tận vùng sâu.
Giải pháp cấp bách: từ chắp vá sang đầu tư căn cơ
Vấn đề không còn là có sửa chữa hay không, mà là cách chúng ta lựa chọn: tiếp tục chắp vá theo từng mùa mưa hay chuyển sang đầu tư căn cơ. Ở Tô Hiến Thành, gói dự án khoảng 12 tỷ đồng được giao cho địa phương làm chủ đầu tư, gồm xây dựng nhà hành chính – quản trị kết hợp nhà ăn, bếp ăn bán trú, công trình phụ trợ và sửa chữa dãy phòng học cũ; nhà thầu cam kết hoàn thành trong khoảng 1,5 tháng. Tại Hòa Thuận, chính quyền xã đang hoàn tất thủ tục đề nghị tỉnh đầu tư 40 tỷ đồng để xây mới phòng chức năng, cải tạo, nâng cấp hạng mục thiết yếu, hướng tới công nhận lại chuẩn quốc gia vào năm 2028. Theo kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030, địa phương dự kiến bố trí khoảng 3.216 tỷ đồng cho giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp. Nhưng nếu việc triển khai vẫn chậm, thực hiện vào đúng thời điểm năm học bắt đầu, không có kế hoạch tạm trú an toàn cho học sinh, thì ngân sách lớn cũng khó biến thành cơ hội. Cần một cách tiếp cận coi cơ sở vật chất trường học vùng sâu là nền tảng, không phải phần phụ: ưu tiên sửa chữa hạng mục nguy hiểm, bảo đảm không còn cảnh sân trường ngập nước quanh năm, lớp học nứt lún, thiết bị dạy học thiếu hụt và trẻ em phải học trong phòng ăn. Khi những “khoảng trống” hữu hình ấy được lấp đầy bằng những công trình an toàn, bền vững, cơ hội học tập công bằng mới có thể đến với học sinh vùng sâu.






