Khai giảng trong bóng công trình dang dở: câu chuyện không thể xem nhẹ
Nhà trường vùng cao và vùng biên là những cơ sở giáo dục nằm ở khu vực miền núi xa xôi, nơi hạ tầng trường học còn thiếu thốn, giao thông cách trở, cơ sở vật chất trường học dễ bị tổn thương bởi thiên tai, sạt lở, khiến việc chuẩn bị cho khai giảng năm học mới luôn đi kèm áp lực an toàn và bài toán duy trì chất lượng giáo dục. Khi đồng bằng rục rịch trang hoàng sân trường, vùng biên Nghệ An lại gồng mình với các công trình nội trú chưa kịp hoàn thiện, những lớp học cũ vẫn phải sáng đèn bất chấp đã đến thời điểm cần chuyển sang cơ sở mới. Thay vì chỉ nhìn đây là chậm tiến độ xây dựng, phải coi đó là phép thử cho quyết tâm chính sách giáo dục vùng biên: ưu tiên an toàn cho học sinh hay chạy theo thành tích khánh thành công trình khang trang.
Tam Thái: quản lý không được phân tán trong hệ thống trường phân tán
Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Tam Thái vừa trải qua đợt sáp nhập 4 trường, được kiện toàn tổ chức và bổ nhiệm hiệu trưởng. Thế nhưng cơ sở mới tại khu vực Pả Hiển - Bản Can vẫn đang gấp rút thi công trong thời điểm mưa lớn, sạt lở, chưa thể nghiệm thu và bàn giao. Hệ quả là hơn 1.200 học sinh của một trường vùng cao phải bước vào khai giảng với phương án tạm bợ: tận dụng cơ sở cũ, dạy học phân tán tại 6 điểm trường. Theo hiệu trưởng Võ Anh Tuấn, toàn trường dự kiến có 36 lớp với 1.213 học sinh, gồm 21 lớp tiểu học với 688 em và 15 lớp THCS với 525 em. Đây không chỉ là con số thống kê; nó cho thấy quy mô của áp lực: vừa phải bảo đảm đủ giáo viên cho lớp đầu cấp, cuối cấp, vừa “hoạt động phân tán nhưng quản lý và chuyên môn không được phân tán”. Nếu không có sự chủ động và linh hoạt của đội ngũ giáo viên, chất lượng giáo dục vùng biên sẽ bị bào mòn bởi chính sự chắp vá của cơ sở vật chất.
Ở cấp tiểu học, điểm Bản Lũng có 345 học sinh, Xốp Nặm 130 em, Huồi Sơn 75 em, Phá Lõm 126 em; cấp THCS bố trí tại Bản Lũng với 271 học sinh và Xốp Nặm với 222 học sinh, trong đó 183 em nội trú và 39 em bán trú. Các lớp phải tổ chức học 2 buổi/ngày, trong bối cảnh cán bộ, giáo viên còn phải trực ngoài giờ học và ban đêm để quản lý học sinh. Nhà trường đã bố trí 84/104 viên chức, người lao động làm việc, sinh hoạt tại khu nội trú, đạt 80,7%. Đây là một phát biểu có sức nặng: “Nhà trường phải hoạt động phân tán nhưng quản lý và chuyên môn không được phân tán”. Nó cho thấy giáo dục vùng biên đang phải xoay xở trên nền hạ tầng trường học chưa xứng tầm, buộc thầy cô vùng cao phải nỗ lực vượt chuẩn để giữ nhịp dạy và học.

Nhôn Mai: chọn an toàn cho học sinh, chấp nhận chậm vào trường mới
Tình trạng cơ sở vật chất trường học chưa hoàn thiện không chỉ diễn ra ở Tam Thái mà còn lặp lại tại xã Nhôn Mai, nơi Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS vẫn là một công trình dang dở. Toàn xã có hơn 40 lớp với khoảng 1.300 học sinh ở hai cấp, riêng tiểu học có tới 9 điểm trường lẻ. Năm học mới, địa phương dự kiến tổ chức khai giảng tại cơ sở trường nội trú liên cấp nếu điều kiện cho phép, rồi sau đó lại phải đưa học sinh trở về các điểm trường cũ để học tập trong lúc chờ công trình hoàn thiện. Việc “khai giảng ở một nơi, học ở nơi khác” là hình ảnh rất rõ của giáo dục vùng biên lúc này: không ai muốn, nhưng buộc phải chấp nhận để tránh đưa trẻ vào công trình chưa bảo đảm an toàn ăn ở và học tập.
Xã Nhôn Mai đang rà soát lại toàn bộ cơ sở vật chất tại các điểm trường để bảo đảm điều kiện đón học sinh. Bí thư Đảng ủy Mạc Văn Nguyên khẳng định quan điểm không đưa học sinh vào trường mới khi công trình chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện về học tập, ăn ở và an toàn. Hơn 100 cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an, dân quân đang hỗ trợ nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục của trường nội trú liên cấp. Nhưng dù lực lượng hỗ trợ đông, cốt lõi vẫn là bài toán tầm nhìn: với những trường vùng cao nội trú ở vùng biên, một cơ sở mới khang trang chỉ có ý nghĩa khi học sinh được học tập, ăn ở và sinh hoạt trong điều kiện an toàn. Nếu vội vàng, cơ sở vật chất trường học có thể biến thành mối nguy mới, thay vì là bước tiến của giáo dục vùng biên.

Tận dụng cơ sở cũ và nguồn lực địa phương: giải pháp tình thế nhưng cần được trân trọng
Trong khi công trình mới còn ngổn ngang, Tam Thái và Nhôn Mai buộc phải tận dụng cơ sở trường học cũ, tổ chức dạy học phân tán nhiều điểm. Điều đó kéo theo hàng loạt việc thầy cô vùng cao phải gánh thêm: xây dựng thời khóa biểu phù hợp từng điểm, hoàn thiện kế hoạch giáo dục theo đặc thù trường phổ thông dân tộc nội trú, hạn chế tối đa xáo trộn chương trình. Với học sinh nội trú, bán trú, các khu nhà ở, bếp ăn và công trình phụ trợ tại những cơ sở đủ điều kiện tiếp tục được sử dụng, cán bộ, giáo viên còn phải trực đêm để quản lý học sinh. UBND xã Tam Thái phối hợp với nhà trường, các bản và gia đình rà soát từng trường hợp, nhất là học sinh người Mông, các em có nguy cơ bỏ học, để “kéo” các em đến trường đúng dịp khai giảng. Đó là phần việc âm thầm nhưng quyết định việc trường vùng cao giữ được sĩ số trong năm học mới.
Thay vì chờ đủ điều kiện lý tưởng, các trường nội trú vùng biên đang sáng tạo những giải pháp rất đời sống. Một trong số đó là ưu tiên sử dụng nông sản, thực phẩm an toàn tại địa phương cho bữa ăn bán trú, nội trú. Cách làm này vừa giảm chi phí vận chuyển, nâng chất lượng bữa ăn, vừa tạo đầu ra cho sản phẩm của người dân. Điện, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy, y tế học đường và an ninh trường học đều được rà soát trước khi đón học sinh. Trong thời gian chuyển tiếp, chính quyền xã phối hợp với nhà trường, chủ đầu tư và các cơ quan liên quan thường xuyên kiểm tra, xử lý khó khăn phát sinh. Trước mắt, những lớp học cũ vẫn phải tiếp tục sáng đèn, những căn bếp bán trú vẫn phải đỏ lửa; ở những bản làng xa xôi, hành trình đưa từng học sinh trở lại trường là việc không thể chậm trễ.

Từ Làng Nủ đến vùng biên Nghệ An: cơ sở vật chất là nền nhưng con người mới là trụ cột
Câu chuyện cơ sở vật chất trường học ở Tam Thái, Nhôn Mai khiến nhiều người liên tưởng đến hành trình hồi sinh của những bản làng từng hứng chịu thiên tai như Làng Nủ, xã Phúc Khánh, nơi đã đi từ biểu tượng đau thương đến bình yên, ấm áp và tràn hy vọng nhờ những mái nhà mới, những con đường mở lối, tiếng cười trẻ thơ. Ở đó, hạ tầng không tự nhiên mà có, mà là kết quả của nghị lực, tình người và niềm tin vào ngày mai. Giáo dục vùng biên Nghệ An hôm nay cũng ở ngã rẽ như vậy: các công trình nội trú đang thi công trong mưa lớn, sạt lở; nhiều hạng mục chưa hoàn thành; nhưng nếu chỉ nhìn vào bê tông, sắt thép, sẽ bỏ qua nhân tố quan trọng nhất – những thầy cô vùng cao chấp nhận phân tán điểm trường, trực ngày trực đêm, giữ lớp trong điều kiện thiếu thốn để không một trẻ nào bị bỏ lại phía sau.
Chính quyền địa phương có lý khi đặt an toàn lên trên việc đưa học sinh sớm vào trường mới; nhưng đi kèm với đó phải là cam kết tiến độ và đầu tư tiếp tục cho hạ tầng trường học, để thầy cô vùng biên không phải gồng mình quá lâu trên nền cơ sở vật chất chắp vá. Ngược lại, cộng đồng xã hội cần nhìn rõ giá trị của giáo dục vùng biên: đó không phải là những ngôi trường khang trang trên báo cáo, mà là ngày ngày “cõng chữ lên bản” trong mưa nắng, là sự kiên trì rà soát từng học sinh, từ bản làng đến lán rẫy. Khi khai giảng năm học mới đến, điều quan trọng nhất không phải là băng rôn đẹp đến đâu, mà là lớp vùng cao còn đủ thầy, đủ trò, đủ an toàn để tiếng trống trường ở vùng biên không lạc nhịp với phần còn lại của đất nước.






