Một chương trình, bốn mục tiêu và tham vọng nhân ba thu nhập nông thôn
Chương trình phát triển nông thôn giai đoạn 2026-2035 là một chương trình mục tiêu quốc gia hợp nhất bốn lĩnh vực lớn về văn hóa, giáo dục, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và chăm sóc sức khỏe, nhằm dùng nguồn lực nhà nước quy mô lớn để nâng chất lượng sống, tăng thu nhập nông dân và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn, miền núi và khu vực đô thị.
Quốc hội đã phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi trên cơ sở hợp nhất bốn chương trình riêng rẽ trước đây về phát triển văn hóa, hiện đại hóa giáo dục – đào tạo, xây dựng nông thôn mới gắn giảm nghèo bền vững, và chăm sóc sức khỏe, dân số, phát triển. Tổng nguồn lực giai đoạn đầu 2026-2030 được xác định là 808.558 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương 345.000 tỷ đồng và ngân sách địa phương 395.392 tỷ đồng. Nói cách khác, đây là một cú “dồn lực” tài chính hiếm thấy cho đầu tư nông thôn Việt Nam, với kỳ vọng thu nhập nông dân 2030 tăng gấp 2,5-3 lần so với năm 2020.

Mục tiêu: Không chỉ là thêm tiền, mà là thay đổi cấu trúc phát triển nông thôn
Nếu chỉ nhìn chương trình phát triển nông thôn như một gói chi tiền, chúng ta sẽ bỏ lỡ điều quan trọng nhất: đây là nỗ lực tái cấu trúc không gian phát triển nông thôn – miền núi bằng kết hợp đồng thời kinh tế, văn hóa, xã hội và phúc lợi. Chương trình đặt mục tiêu tăng thu nhập bình quân người dân nông thôn gấp 2,5–3 lần so với năm 2020, đồng thời nâng thu nhập người dân tộc thiểu số lên bằng 1/2 bình quân chung cả nước.
Một trong những phát biểu quan trọng là: “Phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân nông thôn gấp 2,5 - 3 lần so với năm 2020, tăng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước”. Song song với mục tiêu thu nhập nông dân 2030, chương trình nhắm tới giảm tỷ lệ nghèo đa chiều cả nước 1–1,5% mỗi năm, đưa nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc và miền núi xuống dưới 10% và cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn. Khoảng 65% số xã được kỳ vọng đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó 10% đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; năm tỉnh, thành hoàn thành xây dựng nông thôn mới.

Chiến lược đầu tư nông thôn: Dồn lực cho vùng yếu, lồng ghép thay vì dàn trải
Mấu chốt của 800 nghìn tỷ đồng không nằm ở con số tuyệt đối, mà ở cách phân bổ và quản trị. Tổng nguồn lực thực hiện chương trình giai đoạn 2026-2035 là 808.558 tỷ đồng, với cấu phần ngân sách Trung ương và địa phương được xác định rõ. Điều đáng chú ý là nguyên tắc đầu tư nông thôn Việt Nam được nêu rất cụ thể: “đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không manh mún, dàn trải; tập trung ưu tiên… cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo”.
Cách tiếp cận này cho thấy chương trình phát triển nông thôn không coi mọi địa phương như nhau, mà chấp nhận ưu tiên mạnh cho phát triển vùng dân tộc và miền núi. Ngân sách nhà nước sẽ được quản lý tập trung, thống nhất mục tiêu, đồng thời lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình, dự án khác có cùng nội dung, nhiệm vụ trên địa bàn để tránh chồng chéo, trùng lặp. Kế hoạch còn yêu cầu không để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản – một điểm then chốt nếu muốn niềm tin nông dân vào chương trình được giữ vững và tối đa hóa hiệu quả từng đồng vốn.

Trụ cột văn hóa, giáo dục, y tế: Nâng chất con người để nâng thu nhập
Để thu nhập bền vững, chỉ đầu tư hạ tầng hay hỗ trợ sản xuất là chưa đủ; chương trình đã đúng khi gắn tăng thu nhập nông dân 2030 với nâng chất con người nông thôn. Về phát triển văn hóa, mục tiêu là hoàn thành tu bổ, tôn tạo 95% di tích quốc gia đặc biệt và 70% di tích quốc gia, đồng thời phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP. Đây không phải chi cho “di sản” đơn thuần, mà là đặt cược vào kinh tế văn hóa và du lịch nông thôn như một nguồn thu mới.
Ở giáo dục, chương trình hướng tới chuẩn hóa, hiện đại hóa hệ thống, phấn đấu 30% cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông có thiết bị dạy – học một số môn bằng tiếng Anh, từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Về y tế, mục tiêu là 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử, 100% trạm y tế xã, phường triển khai dự phòng và quản lý một số bệnh không lây nhiễm, giảm suy dinh dưỡng thấp còi trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 15%. Một nền nông thôn khỏe mạnh, học vấn tốt, giàu bản sắc là nền tảng để thu nhập không chỉ tăng nhanh mà còn tăng ổn định.
Thách thức thực thi và điều kiện để mục tiêu thu nhập trở thành hiện thực
Tầm chương trình đã rõ, mục tiêu cũng đủ tham vọng; vấn đề còn lại là triển khai. Căn cứ dự toán ngân sách hai giai đoạn 2026-2030 và 2031-2035, ngân sách Trung ương chỉ hỗ trợ các địa phương nhận bổ sung cân đối hoặc không điều tiết về Trung ương, ưu tiên địa phương nhận bổ sung cân đối từ 60% tổng chi cân đối trở lên. Điều này vừa hợp lý vì nhắm đúng nơi khó khăn nhất, vừa đặt ra yêu cầu quản trị cao với chính quyền địa phương: nếu không chủ động, họ sẽ khó tận dụng được nguồn vốn được ưu tiên.
Nếu muốn chương trình phát triển nông thôn thực sự bứt phá, ba điều kiện là bắt buộc. Thứ nhất, phải gắn từng đồng vốn với chỉ số kết quả cụ thể: giảm nghèo đa chiều 1–1,5%/năm, vùng dân tộc nghèo dưới 10%, 65% xã đạt chuẩn nông thôn mới. Thứ hai, phải bảo đảm công khai, minh bạch khi lồng ghép nguồn vốn như Chính phủ được giao quy định. Thứ ba, tiếng nói của nông dân và cộng đồng vùng dân tộc cần được đặt vào trung tâm thiết kế và giám sát. Chỉ khi đó, mục tiêu tăng gấp 2,5–3 lần thu nhập nông dân đến 2030 mới không dừng ở nghị quyết, mà trở thành thay đổi thực trong đời sống nông thôn.






