Một thước đo chung, không phải bản án
Kiểm tra chung là hình thức dùng đề do cơ quan quản lý giáo dục cấp tỉnh xây dựng, thẩm định và cung cấp cho nhiều trường, nhằm tạo căn cứ so sánh kết quả học tập trên cùng một mặt bằng. Giá trị lớn nhất của cách làm này không nằm ở việc xếp hạng trường, mà ở khả năng đặt ra câu hỏi đúng khi điểm số giữa các nơi chênh lệch đáng kể. Ngày 29/10, ông Thái Văn Tài, Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông, giải thích quy định trong Thông tư 89 về kiểm tra chung cuối kỳ hoặc cuối năm cho học sinh cuối cấp. Từ ngày 1/12/2026, Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ chủ trì ra, thẩm định và cung cấp đề định kỳ chung ở một số môn do Sở lựa chọn. Đây là bước đáng làm: khi mỗi trường tự ra đề, điểm số khó so sánh nếu độ khó và cách chấm khác nhau. Nhưng chênh lệch chỉ là tín hiệu cần xem xét, không phải bằng chứng sẵn có về hành vi làm đẹp điểm số.
Dữ liệu chỉ có ích khi được đọc đúng
Theo lộ trình được nêu, học sinh lớp 5 kiểm tra chung vào cuối học kỳ I và cuối năm học; học sinh lớp 9 và lớp 12 làm bài vào cuối học kỳ I và cuối học kỳ II. Dữ liệu từ cùng một đề có thể giúp ngành giáo dục nhận diện nơi cần tìm hiểu thêm, đồng thời chỉ ra phần kiến thức học sinh còn yếu để điều chỉnh dạy học. Khi kết quả đánh giá không phản ánh đúng năng lực và tiến bộ, giáo viên khó biết em nào cần hỗ trợ và đang vướng ở đâu. Tuy nhiên, điểm giữa các trường khác nhau có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố: trình độ đầu vào, điều kiện học tập, cách tổ chức dạy học, mức độ phù hợp của đề hoặc quy trình chấm. Vì thế, quy định không cho phép suy từ một khoảng cách điểm số thẳng đến kết luận nâng điểm; dấu hiệu bất thường phải được xác minh khách quan bằng dữ liệu và quy trình phù hợp. Nếu biến kết quả chung thành bảng xếp hạng, chính công cụ giám sát có thể tạo thêm áp lực thành tích.
Muốn giảm lạm phát điểm, phải sửa cả cách ra đề
Giáo viên đồng tình rằng đề chung có thể tạo mặt bằng tham chiếu, nhưng cảnh báo nó không tự động đem lại đánh giá học sinh thực chất. Cô Nguyễn Thị Vân Hồng cho rằng đề cần phù hợp chương trình, có tính phân hóa, không đánh đố và không đẩy học sinh vào vòng luyện thi. Nếu đề quá dễ, dữ liệu vẫn không phân biệt được mức độ nắm bài; nếu quá khó hoặc lệch trọng tâm, điểm thấp lại phản ánh chất lượng đề hơn là năng lực. Lạm phát điểm còn được nuôi bởi áp lực từ phụ huynh, chỉ tiêu thành tích của trường, cách đánh giá giáo viên và thói quen coi điểm cao như thước đo gần như tuyệt đối. Bởi vậy, đổi người ra đề mà giữ nguyên động lực chạy theo tỷ lệ học sinh giỏi thì việc làm đẹp điểm số có thể chỉ chuyển sang hình thức khác. Đề chung phải được tổ chức minh bạch, chấm nhất quán và dùng để tìm lỗ hổng học tập, không để tạo thêm cuộc đua giữa các trường.

Đích đến là học sinh tiến bộ, không phải bảng điểm đẹp
Một kỳ kiểm tra chỉ có ý nghĩa khi học sinh biết mình đã đạt được gì, còn hạn chế ở đâu và cần làm gì tiếp theo; em gặp khó khăn cần được hỗ trợ thay vì bị gắn nhãn hay đem ra so sánh máy móc. Đó cũng là lý do kết quả chung không nên trở thành căn cứ duy nhất để xếp hạng trường, đánh giá giáo viên hoặc quy kết vi phạm. Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh rằng chống bệnh thành tích cần nhiều việc đồng bộ hơn kỹ thuật ra đề: đổi mới dạy học và kiểm tra, tăng trách nhiệm quản lý, minh bạch quy trình, xử lý hành vi làm sai lệch kết quả. Kết luận cần rõ ràng: kiểm tra chung là công cụ giám sát hữu ích, có thể làm lộ ra những điểm số cần giải thích, nhưng không thể một mình chấm dứt chạy đua thành tích. Chỉ khi đề đáng tin, việc xác minh công bằng và điểm số được dùng để hỗ trợ học tập thay vì phô diễn thành tích, công cụ ấy mới góp phần đưa lạm phát điểm về đúng mức.






