Đô thị lấn biển là gì và vì sao Quốc hội phải vào cuộc lúc này?
Phát triển đô thị lấn biển là việc hình thành khu đô thị mới bằng cách lấn từ bờ ra biển hoặc xây dựng đảo nhân tạo, nhằm mở rộng không gian đô thị, tạo thêm quỹ đất cho phát triển kinh tế, du lịch, sinh thái và các hoạt động dịch vụ ven biển trong bối cảnh quỹ đất đô thị trên đất liền ngày càng hạn hẹp. Đây không chỉ là lựa chọn kỹ thuật mà là quyết định chiến lược về không gian phát triển quốc gia. Chiều 20-8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thống nhất chủ trương xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù cho dự án khu đô thị lấn biển và đồng ý tích hợp nội dung này vào dự thảo Luật Phát triển đô thị để trình Quốc hội xem xét. Điều này cho thấy cơ chế chính sách lấn biển đã bước từ giai đoạn thí điểm rời rạc sang yêu cầu phải có khung luật thống nhất, minh bạch, đủ dài hạn. Khi nhiều địa phương đã và đang triển khai lấn biển nhưng thiếu hành lang pháp lý đầy đủ, việc luật hóa không còn là câu chuyện lựa chọn, mà là yêu cầu cấp bách để tránh tình trạng mỗi nơi làm một kiểu, rủi ro dồn vào tài nguyên biển và lợi ích công cộng.

Đất lấn biển thuộc sở hữu Nhà nước: Vành đai chống lợi ích nhóm
Thông điệp chính trị rõ nhất trong lần thảo luận này là: mọi diện tích đất mới hình thành từ quá trình lấn biển mặc nhiên thuộc sở hữu Nhà nước, “dứt khoát không thuộc về bất kỳ cá nhân hay doanh nghiệp nào”. Đây không chỉ là nguyên tắc pháp lý, mà là vành đai an toàn chống tư nhân lũng đoạn tài nguyên biển. Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh hoạt động lấn biển phải được kiểm soát “cực kỳ nghiêm ngặt”, cảnh báo nguy cơ nếu buông lỏng, các tập đoàn có thể biến đất lấn biển thành “ốc đảo đặc quyền”, phá vỡ trật tự quy hoạch và lợi ích cộng đồng. Điều đáng chú ý là Ủy ban Thường vụ Quốc hội không chọn cách tách riêng một chương mà lồng ghép cơ chế phát triển đô thị lấn biển vào Chương II của Luật Phát triển đô thị, để bảo đảm cấu trúc luật gọn, logic và có thể áp dụng trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, luật chỉ giữ những nguyên tắc cốt lõi về sở hữu đất lấn biển và quản lý nhà nước, còn lại giao Chính phủ quy định chi tiết, cho phép điều hành linh hoạt theo từng dự án ven biển cụ thể. Đây là lựa chọn cân bằng giữa kiểm soát tập trung và dư địa điều hành cho Chính phủ.

Pháp luật quốc tế, Luật Biển và ranh giới pháp lý cho các dự án ven biển
Một điểm then chốt của cơ chế chính sách lấn biển là không thể xung đột với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Đại biểu Chu Mạnh Hùng khẳng định, lấn biển từ bờ theo Luật Đất đai và phát triển khu đô thị lấn biển bằng đảo nhân tạo theo dự thảo Luật Phát triển đô thị tuy cùng mục đích lấn biển nhưng khác nhau về tính chất pháp lý, song đều phù hợp với UNCLOS 1982 nếu được quy định đúng. Bộ trưởng Tài chính cũng nêu rõ: dự án phải tuân thủ đầy đủ pháp luật Việt Nam và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, đồng thời không hình thành đơn vị hành chính mới. Điều này đặt ranh giới quan trọng: phát triển đô thị lấn biển không được phép trở thành cái cớ để thay đổi đường cơ sở, tranh chấp chủ quyền hay tạo “vùng xám” pháp lý trên biển. Về mặt thiết kế luật, việc bổ sung Điều 18a trong dự thảo để luật hóa cơ chế phát triển đô thị lấn biển, cùng với việc giao Chính phủ trách nhiệm thực hiện thủ tục đối ngoại và thông báo cho các bên liên quan khi triển khai các hoạt động này, là lớp bảo hiểm pháp lý cần thiết trên bình diện quốc tế.

Môi trường biển và sàng lọc nhà đầu tư: Không thể đánh đổi
Lấn biển là can thiệp trực tiếp vào tự nhiên, nên mọi dự án khu đô thị lấn biển bắt buộc phải đánh giá tác động môi trường biển một cách nghiêm túc, không chỉ trên giấy. Chủ tịch Quốc hội yêu cầu dự án phải tuân thủ Luật Quy hoạch và bắt buộc thực hiện đánh giá tác động môi trường để không làm cản trở dòng chảy hay ảnh hưởng an toàn hàng hải. Theo một phát biểu được nhiều đại biểu nhắc lại, “diện tích lấn biển cần được xem là tiêu chí quan trọng để phân loại dự án, thay vì chỉ căn cứ quy mô vốn”, bởi tác động môi trường biển tăng theo diện tích can thiệp chứ không luôn song hành với vốn đầu tư. Trên bình diện tài chính, dự thảo quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu 15% với dự án từ 100 tỷ đến 200.000 tỷ đồng và 10% với dự án trên 200.000 tỷ đồng. Tuy vậy, nhiều ý kiến cho rằng chỉ số vốn này chưa đủ; với dự án siêu lớn, luật phải gắn thêm tiêu chí về năng lực tài chính, kinh nghiệm triển khai dự án tương tự và khả năng bảo đảm nguồn vốn theo tiến độ, để tránh kịch bản dự án treo trên biển rồi rủi ro tài chính rơi vào ngân sách nhà nước.

Cần một khuôn khổ thống nhất để phát triển đô thị lấn biển dài hạn
Các đại biểu thống nhất rằng phát triển đô thị lấn biển là xu thế để mở rộng không gian phát triển quốc gia ra biển, hình thành các cực tăng trưởng mới và huy động nguồn lực lớn từ khu vực ngoài nhà nước. Nhưng “cơ chế càng đặc biệt, quy mô càng lớn thì giới hạn độc quyền và cơ chế kiểm soát càng phải quy định chặt chẽ trong luật”. Nói cách khác, luật phải vừa mở lối cho các địa phương có điều kiện ven biển tiếp cận, tổ chức thực hiện dự án, vừa không biến các ưu đãi thành đặc quyền bất đối xứng, gây thất thoát quyền lợi công. Việc luật hóa cơ chế phát triển đô thị lấn biển trong Luật Phát triển đô thị, với khuôn khổ chung, ổn định và có khả năng áp dụng lâu dài, là bước đi đúng: nó chấm dứt tình trạng “đo ni đóng giày” cho từng dự án, từng địa phương và đặt mọi hoạt động lấn biển dưới cùng một trần pháp lý. Bài toán còn lại là chất lượng thi hành: nếu đánh giá tác động môi trường biển, sàng lọc năng lực nhà đầu tư và giám sát quản lý dự án ven biển chỉ dừng ở câu chữ, đô thị lấn biển sẽ trở thành phép thử thất bại cho quản trị tài nguyên biển. Nếu làm nghiêm, đây có thể là cú hích mở ra không gian phát triển mới mà vẫn giữ vững nguyên tắc sở hữu đất lấn biển thuộc Nhà nước và môi trường là lằn ranh đỏ.







