Tri thức biển: Định nghĩa lại tham vọng quốc gia biển mạnh
Tri thức biển là toàn bộ hệ thống hiểu biết khoa học, kinh nghiệm thực tiễn và dữ liệu về tài nguyên, môi trường, khí hậu, kinh tế và an ninh trên không gian biển, được tổ chức và cập nhật bằng công nghệ hiện đại để hỗ trợ quyết sách, khai thác và bảo vệ biển một cách hiệu quả, an toàn và phát triển bền vững biển. Muốn trở thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam không thể chỉ nói về chiều dài bờ biển hay vị trí địa chiến lược; điểm quyết định là chiều sâu tri thức hàng hải, chất lượng dữ liệu biển và năng lực công nghệ biển Việt Nam. Thứ trưởng Trần Trung Tính khẳng định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực để Việt Nam bứt phá trong phát triển biển. Câu chuyện biển vì thế đã chuyển từ “có gì dưới nước” sang “chúng ta biết gì và làm gì với biển”.

Từ dữ liệu biển đến tri thức hàng hải số hóa
Chiến lược quốc gia biển mạnh bắt đầu từ việc xem dữ liệu biển như tài sản chiến lược. Khi các dòng hải lưu, trầm tích đáy, dòng chảy thương mại hay biến động khí hậu được số hóa, tích hợp và phân tích theo thời gian thực, tri thức hàng hải mới hình thành, cho phép ra quyết định nhanh, chính xác và chủ động. Thứ trưởng Bộ KH&CN nhấn mạnh Việt Nam phải mạnh về tri thức biển, dữ liệu biển và công nghệ biển nếu muốn trở thành quốc gia biển mạnh. Tuy nhiên, dữ liệu rời rạc, thiếu chuẩn chung và không kết nối với hạ tầng khu vực, toàn cầu sẽ khiến chúng ta mãi ở vị thế "người đi sau". Đề xuất tăng cường xây dựng, kết nối hạ tầng dữ liệu đại dương và tham gia các chương trình quan trắc, chia sẻ và khai thác dữ liệu là bước đi đúng nhưng cần được xem như ưu tiên chính trị, không chỉ là một dự án kỹ thuật.

Công nghệ biển Việt Nam: Từ tiếp nhận đến làm chủ
Nếu tri thức và dữ liệu là nền, công nghệ biển chính là lực kéo để Việt Nam cạnh tranh trong khu vực. Bộ KH&CN đặt rõ ưu tiên: hợp tác nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và làm chủ các công nghệ biển tiên tiến, công nghệ mới. Danh mục được nêu – từ phương tiện ngầm tự hành, viễn thám đại dương, cáp ngầm biển tốc độ cao, trung tâm dữ liệu biển đến năng lượng tái tạo ngoài khơi và công nghệ sinh học biển – cho thấy tham vọng đi vào tầng sâu của giá trị kinh tế biển chứ không dừng ở đánh bắt, vận tải hay du lịch. Vấn đề là chúng ta tiếp cận công nghệ biển Việt Nam như thế nào: chỉ mua giải pháp hoàn chỉnh hay chủ động cùng nghiên cứu, đồng phát triển và chia sẻ hạ tầng thử nghiệm? Nếu không đặt mục tiêu làm chủ, mọi khẩu hiệu về quốc gia biển mạnh sẽ dừng ở mức tiêu đề.

Hợp tác quốc tế và ngoại giao khoa học: Chiến lược chứ không phải ngoại vi
Biển và đại dương là không gian liên thông toàn cầu, nơi các vấn đề về tài nguyên, môi trường, khí hậu và phát triển bền vững biển mang tính xuyên biên giới. Trong bối cảnh đó, tự thân vận động là lựa chọn nguy hiểm. Hợp tác quốc tế phải trở thành trụ cột chiến lược của khoa học và công nghệ biển, không chỉ là các dự án viện trợ nhỏ lẻ. Ngoại giao khoa học biển được xác định là cầu nối giúp Việt Nam tiếp cận tri thức, công nghệ tiên tiến và tham gia sâu vào mạng lưới nghiên cứu quốc tế, đồng thời tạo cơ hội đóng góp sáng kiến giải quyết vấn đề chung của biển và đại dương. Đáng chú ý, biển được nhấn mạnh không chỉ gắn với chủ quyền và không gian sinh tồn, mà còn là cửa ngõ kết nối với khu vực và thế giới, một không gian chiến lược trong mở rộng không gian phát triển và nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Giai đoạn 2026–2030: Bài kiểm tra cho tham vọng phát triển bền vững biển
Giai đoạn 2026–2030 sẽ là bài kiểm tra thực tế cho mọi tuyên bố về quốc gia biển mạnh. Bộ KH&CN đã đề xuất bốn hướng hợp tác quốc tế trọng tâm, tập trung vào làm chủ công nghệ, kết nối dữ liệu, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển nhân lực khoa học biển. Đây không chỉ là một chương trình chuyên môn, mà là khung hành động để chuyển tri thức biển, dữ liệu biển và công nghệ biển thành động lực tăng trưởng mới và phát triển bền vững. Nếu các đề xuất này được triển khai một cách nhất quán, Việt Nam có thể khai thác hiệu quả tiềm năng biển, tạo động lực kinh tế mới mà vẫn giữ được cam kết phát triển bền vững biển. Ngược lại, nếu chúng bị coi là phụ lục kỹ thuật của những chiến lược chung chung, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội lịch sử để trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và đủ năng lực bảo vệ không gian sinh tồn trước biến động toàn cầu.







