Làn sóng dự án gặp giới hạn nhân lực
Thiếu lao động xây dựng là tình trạng nguồn nhân lực sẵn có không đủ đáp ứng số công nhân và kỹ thuật viên mà các công trường cần để triển khai đồng thời những dự án đang thi công. Đây không còn là khó khăn riêng của một vài nhà thầu: nhiều công trình trọng điểm cùng bước vào giai đoạn triển khai, trong khi lực lượng lao động chưa được chuẩn bị tương xứng.
Sân bay Long Thành, các công trình phục vụ APEC 2027, đường Vành đai 3 TP.HCM, các tuyến vành đai Hà Nội và hàng loạt cây cầu lớn tạo sức ép tuyển dụng trên diện rộng. Tại Hà Nội, các cầu Hồng Hà, Tứ Liên, Ngọc Hồi, Mễ Sở và Thượng Cát cùng triển khai, kéo theo nhu cầu cao về lao động lành nghề và nhân lực làm việc với công nghệ xây dựng hiện đại.
Theo ông Phạm Văn Khôi, khối lượng công việc giai đoạn 2026–2030 tăng mạnh so với trước, nhưng nguồn nhân lực chưa được chuẩn bị tương xứng. Nghịch lý này phản ánh độ trễ của thị trường: sau thời gian đầu tư hạ tầng thấp, sức hút nghề nghiệp suy giảm; khi các dự án tăng tốc, không thể lập tức đào tạo và điều chuyển đủ người. Vì vậy, nhân lực thi công hạ tầng đang trở thành điều kiện giới hạn tiến độ, không chỉ là đầu việc tuyển dụng của từng doanh nghiệp.
Khoảng thiếu hụt khiến công trường phải cạnh tranh
Quy mô thiếu hụt cho thấy đây là bài toán của toàn ngành. Hiệp hội Các nhà thầu xây dựng Việt Nam ước tính nhu cầu lao động xây dựng trong năm 2026 có thể lên tới 4 triệu công nhân, nhưng lực lượng trên thị trường chỉ đáp ứng khoảng 25%. Tính theo tỷ lệ đó, khoảng ba phần tư nhu cầu chưa được đáp ứng; con số này không đồng nghĩa với mọi dự án đều thiếu đúng cùng một tỷ lệ, nhưng báo hiệu cạnh tranh nhân lực sẽ gay gắt.
Nguồn bổ sung từ các trường công nhân kỹ thuật gần như không đủ đáp ứng nhu cầu, đặc biệt ở nhóm công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Một số doanh nghiệp có tiềm lực sẵn sàng trả lương cao gấp đôi mặt bằng thị trường để thu hút người. Các nhà thầu yếu thế hơn khó giữ đội ngũ, còn người lao động có thể chuyển công trường theo mức đãi ngộ. Đây là cuộc cạnh tranh phân bổ lao động hữu hạn, không phải giải pháp làm tăng nhanh tổng nguồn cung.
Áp lực chi phí cũng đã hiện rõ: theo ông Khôi, tiền công thợ vận hành máy khoan lành nghề từng khoảng 20–22 triệu đồng mỗi tháng, nay có thể lên 65 triệu đồng; lao động phổ thông từ 400.000–500.000 đồng mỗi ngày lên 1,5–2 triệu đồng. Những mức tăng này gây sức ép lên ngân sách và kế hoạch nhân sự của nhà thầu, nhất là khi dự án đầu tư công bị ràng buộc bởi dự toán và đơn giá.
Thiếu người làm đảo lộn cách tổ chức thi công
Khi không tuyển đủ người đúng lúc, nhà thầu khó bố trí các mũi thi công song song, duy trì ca làm hoặc đưa thiết bị vào vận hành theo kế hoạch. Thiếu công nhân có tay nghề còn có thể khiến khâu cần kỹ thuật cao trở thành nút thắt, dù vật liệu và máy móc đã sẵn sàng. Đây là nguy cơ tổ chức, không phải khẳng định rằng mọi công trình chắc chắn sẽ chậm tiến độ.
Các doanh nghiệp đã phải tìm lao động từ vùng sâu, vùng xa, nhưng tuyển được người chưa đồng nghĩa với có ngay đội ngũ phù hợp. Công việc xây dựng vất vả, thường xuyên ngoài trời, trong khi tình trạng khan hiếm khiến việc thu hút và giữ chân công nhân khó hơn, dẫn đến thiếu hụt cục bộ tại nhiều công trường. Nếu nhà thầu liên tục phải bù người, điều chuyển lực lượng hoặc tăng ca để giữ kế hoạch, tính ổn định và hiệu quả thi công đều chịu sức ép.
Vấn đề còn nằm ở cách phân bổ rủi ro giữa các dự án. Theo ông Nguyễn Thế Minh, nhiều dự án đầu tư công và tư nhân triển khai đồng thời tạo áp lực lên nguồn lực toàn ngành, nhất là công nhân kỹ thuật lành nghề. Một nhà thầu nhận nhiều dự án cùng lúc sẽ phải chia sẻ lực lượng giữa các công trường. Nếu không tính đúng năng lực nhân sự trước khi lập tiến độ, kế hoạch trên giấy có thể vượt quá khả năng thi công thực tế.
Đào tạo cần đi trước chu kỳ dự án
Giải pháp không thể chỉ là cuộc đua tăng lương giữa các nhà thầu. Cách làm đó có thể kéo người từ công trường này sang công trường khác, nhưng không tạo thêm nhanh lực lượng kỹ thuật mà toàn ngành đang thiếu. Nhu cầu lao động xây dựng cần được dự báo theo danh mục dự án và tiến độ thực tế, để cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cơ quan quản lý phối hợp chuẩn bị nghề, kỹ năng và số lượng tuyển sinh.
Theo cảnh báo trong nguồn tin, nếu đào tạo và tuyển sinh phát triển tự phát, không có điều tiết bằng chính sách, tình trạng thiếu hụt sẽ khó được giải quyết; ngay cả khi điều chỉnh chính sách từ bây giờ, cần khoảng 4–5 năm để bổ sung nguồn nhân lực mới. Khoảng chờ ấy đòi hỏi nhà thầu sớm rà soát năng lực, phân kỳ huy động nhân sự và tránh nhận tiến độ dựa trên giả định rằng lao động sẽ tự xuất hiện.
Khoảng cách cung cầu hiện nay là lời cảnh báo trực tiếp với các dự án hạ tầng: tiền và thiết bị không thể thay thế đội ngũ đủ người, đủ kỹ năng. Thị trường chỉ đáp ứng một phần tư nhu cầu trong năm 2026, nên nguy cơ thiếu người tại công trường sẽ còn đè nặng lên việc tổ chức thi công. Muốn bảo vệ tiến độ, ngành cần coi đào tạo và điều phối nhân lực là một phần của kế hoạch đầu tư ngay từ đầu, thay vì chữa cháy khi công trường đã khuyết người.






