Quyết định di dời: khi đường kết nối sân bay đi qua di sản
Di dời di tích Bắc Ninh để xây đường kết nối sân bay Gia Bình Hà Nội là chủ trương cho phép di chuyển hai đình cổ cấp tỉnh trên địa bàn Bắc Ninh, với điều kiện bảo tồn tối đa kiến trúc, các yếu tố nguyên gốc và giá trị lịch sử – văn hóa, nhằm hài hòa yêu cầu phát triển hạ tầng giao thông với nhiệm vụ gìn giữ di sản văn hóa lâu đời của địa phương. Sáng 24.8, Quốc hội đã thông qua nghị quyết cho phép di chuyển đình Đông Côi ở phường Thuận Thành và đình Tam Sơn ở xã Lương Tài, nằm trong phạm vi dự án đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Hà Nội. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 20.9, mở đường cho việc triển khai bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gắn với phương án di dời. Đây không chỉ là bước thủ tục, mà là thông điệp rõ ràng: di sản không đứng ngoài cuộc chơi hạ tầng, nhưng phải được tính đến bằng cơ chế đặc thù.

Gia Bình – tham vọng hạ tầng và áp lực lên di tích cổ Việt Nam
Dự án sân bay Gia Bình được quy hoạch theo tiêu chuẩn cấp 4F, với công suất giai đoạn một đạt 30 triệu hành khách mỗi năm và tổng vốn đầu tư dự kiến gần 196.000 tỷ đồng. Nó được định hướng trở thành trung tâm kinh tế hàng không thế hệ mới, kéo theo nhu cầu đường kết nối sân bay hiện đại, đồng bộ. Trong bức tranh đó, các di tích cổ Việt Nam nằm trên trục quy hoạch lập tức trở thành điểm nghẽn. Theo tờ trình của Chính phủ, việc di dời ba di tích cấp tỉnh – đền Tân Trăn, đình Đông Côi, đình Tam Sơn – ban đầu nhằm phục vụ hai dự án: tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với thủ đô và doanh trại Trung đoàn Không quân Công an nhân dân. Sau rà soát, Quốc hội chỉ chấp thuận đưa hai đình vào nghị quyết, tạm gác đền Tân Trăn để xem xét thêm về pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo. Quyết định này cho thấy tham vọng hạ tầng có thể mạnh mẽ, nhưng vẫn bị buộc phải đi qua “cửa” pháp lý di sản và tôn giáo.
Cơ chế đặc thù: bảo tồn di sản văn hóa hay hợp thức hóa di dời?
Điểm đáng chú ý là nghị quyết không chỉ cho phép di dời di tích Bắc Ninh, mà tạo ra một khung pháp lý riêng cho trường hợp “cá biệt” này. Ủy ban Văn hóa và Xã hội nhận định nghị quyết bảo đảm bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, đồng thời không ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng khi phát triển hạ tầng chiến lược. UBND tỉnh Bắc Ninh được giao trách nhiệm bảo tồn tối đa kiến trúc, yếu tố nguyên gốc và giá trị lịch sử – văn hóa của từng đình; phương án di dời phải công khai, minh bạch, tham vấn người dân, không để bản sắc, tín ngưỡng bị mai một hay biến dạng. Theo báo cáo giải trình, “việc di chuyển di tích chỉ thực hiện khi thực sự cần thiết, không còn biện pháp thay thế để bảo tồn tại chỗ”. Câu hỏi là: ai xác định thế nào là “không còn biện pháp thay thế”, và cộng đồng có đủ tiếng nói trong quyết định cuối cùng hay không?
Cộng đồng ở đâu trong bài toán đường kết nối sân bay?
Các ngôi đình là không gian sống của cộng đồng, không chỉ là khối kiến trúc có thể bốc lên rồi đặt xuống chỗ khác. Nghị quyết yêu cầu địa phương phải quan tâm đến sinh kế và đời sống văn hóa của cộng đồng liên quan; phương án di dời phải tham vấn ý kiến người dân. Đây là điểm tích cực, nhưng nếu việc gửi hồ sơ cho cơ quan thẩm tra còn muộn, khiến khâu nghiên cứu phải dựa hoàn toàn trên báo cáo của Chính phủ, thì người dân càng phải cảnh giác: mình có đang được hỏi ý trước, hay chỉ được thông báo sau? Chính phủ cam kết sẽ chỉ đạo xây dựng phương án di chuyển khả thi, bảo đảm tính toàn vẹn di tích và hài hòa giữa hạ tầng với di sản. Muốn hài hòa thực sự, quá trình tham vấn phải đi kèm quyền được phản biện, được đề xuất phương án điều chỉnh tuyến đường, chứ không chỉ chọn giữa “chấp nhận di dời” hoặc “cản trở phát triển”.
Kết luận: phát triển hạ tầng không thể là cái cớ làm yếu di sản
Từ dự án đường kết nối sân bay Gia Bình Hà Nội, có thể thấy một xu hướng rõ rệt: di tích cổ Việt Nam sẽ ngày càng đứng trước sức ép quy hoạch hạ tầng quy mô lớn. Nghị quyết của Quốc hội, với cơ chế đặc thù để di dời di tích, là nỗ lực thiết lập hàng rào pháp lý bảo vệ di sản trong bối cảnh phát triển. Nhưng hàng rào đó chỉ có ý nghĩa nếu việc bảo tồn tối đa không bị biến thành khẩu hiệu, nếu mỗi lần di dời là một quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, đối thoại với cộng đồng và cân nhắc thật sự các phương án bảo tồn tại chỗ. Dự án doanh trại Trung đoàn Không quân Công an nhân dân gắn với câu chuyện đền Tân Trăn cho thấy, khi còn vướng mắc pháp lý về tín ngưỡng, tôn giáo, việc tạm dừng là lựa chọn đúng. Đó nên là tiêu chuẩn chung: chừng nào chúng ta chưa chứng minh được di sản được bảo vệ tốt hơn sau di dời, chừng đó không nên xem di dời là giải pháp mặc định cho bài toán hạ tầng.





