Xuất nhập khẩu Việt Nam: Bước nhảy quy mô và câu hỏi về chất lượng
Xuất nhập khẩu Việt Nam là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được mua bán qua biên giới, phản ánh mức độ hội nhập, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước và khả năng tận dụng các hiệp định thương mại tự do để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, đồng thời tạo việc làm và gia tăng giá trị sản xuất trong nền kinh tế. Với 9 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Con số này cho thấy xuất nhập khẩu Việt Nam đang bước vào giai đoạn mở rộng quy mô rất nhanh, đặt ra mục tiêu tham vọng tiến tới kim ngạch thương mại 1.200 tỷ USD trong cả năm nếu đà tăng trưởng được duy trì ổn định. Vấn đề không chỉ là đạt mốc mới, mà là tăng trưởng đó có bền vững, cân bằng và mang lại giá trị trong nước cao hơn hay không.
Nhập khẩu tăng mạnh: Tín hiệu rủi ro hay nền tảng cho bước nhảy 1.200 tỷ USD?
Điểm dễ gây lo ngại trong bức tranh xuất nhập khẩu Việt Nam là nhập siêu 19,4 tỷ USD sau 9 tháng. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào con số, chúng ta sẽ bỏ qua chất lượng của dòng hàng nhập khẩu. Nhóm tư liệu sản xuất chiếm tới 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3% và nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%. Điều này cho thấy phần lớn nhập khẩu đang phục vụ trực tiếp cho sản xuất và xuất khẩu, chứ không phải tiêu dùng không thiết yếu. Một câu nói đáng chú ý là nhận định rằng Việt Nam "đang nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu để phục vụ sản xuất, không phải sự gia tăng nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu". Nhìn dưới góc độ chuẩn bị năng lực sản xuất cho giai đoạn tới, nhập khẩu tăng mạnh là nền tảng để kim ngạch thương mại 1.200 tỷ USD trở nên khả thi, dù vẫn tiềm ẩn rủi ro nếu giá nguyên liệu tiếp tục leo thang.
Doanh nghiệp chủ động dự trữ nguyên liệu: Lợi thế hay gánh nặng trong quý IV?
Một yếu tố ít được nói đến nhưng có ảnh hưởng lớn tới xuất nhập khẩu Việt Nam là chiến lược dự trữ nguyên liệu của doanh nghiệp. Trước tình trạng nguồn cung linh kiện thiếu ổn định và giá cả biến động mạnh, nhiều doanh nghiệp điện tử và sản xuất máy tính đã chủ động nâng mức tồn kho để phòng ngừa nguy cơ gián đoạn sản xuất. Có trường hợp chu kỳ dự trữ từ 6 tuần tăng lên 12 tuần, thậm chí tồn kho đủ đến tháng 3/2027. Việc tăng dự trữ khiến kim ngạch nhập khẩu toàn ngành điện tử tăng nhanh hơn xuất khẩu, làm nới rộng nhập siêu trong ngắn hạn. Nhưng ở góc nhìn khác, lượng nguyên liệu đã nằm trong kho sẽ trở thành lợi thế khi đơn hàng xuất khẩu quý IV cải thiện, giúp doanh nghiệp đáp ứng nhanh, giảm rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và tạo điều kiện cho tăng trưởng xuất khẩu quý IV bứt tốc. Câu hỏi là liệu doanh nghiệp có đủ đơn hàng để “tiêu hóa” lượng tồn kho này, hay sẽ phải đối mặt với chi phí tài chính và rủi ro giá giảm.
Quý IV: Thời điểm bản lề cho tăng trưởng xuất khẩu và cán cân thương mại
Quý IV luôn là mùa cao điểm của xuất khẩu, và năm nay kỳ vọng càng lớn hơn khi gần 31% doanh nghiệp dự báo đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng, 54,2% dự kiến ổn định và chỉ 15% dự báo giảm so với quý III. Nghị quyết số 01/NQ-CP đặt mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu khoảng 15–16%, nhưng với đà tăng 30,4% của 9 tháng và 39,1% riêng trong tháng 9, mục tiêu này không còn là trần mà trở thành ngưỡng tối thiểu để Việt Nam hướng tới kim ngạch thương mại 1.200 tỷ USD. Để cải thiện cán cân thương mại, xuất khẩu cần tập trung sâu vào các thị trường còn dư địa như Mỹ, EU, tận dụng các hiệp định thương mại tự do và đẩy mạnh những nhóm hàng có nhu cầu cao như điện tử, máy móc, nông sản, thủy sản. Tuy nhiên, nhập khẩu vẫn tăng nhanh hơn xuất khẩu, đặc biệt ở nhóm máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, khiến áp lực nhập siêu khó giảm nhanh. Quý IV vì thế sẽ là phép thử xem tăng trưởng xuất khẩu có đủ mạnh để thu hẹp khoảng cách với nhập khẩu hay không.
Từ mở rộng quy mô đến nâng chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu
Quy mô thương mại liên tục được mở rộng, từ 930 tỷ USD năm 2025 lên kỳ vọng 1.200 tỷ USD nếu duy trì được đà tăng hiện nay. Nhưng như nhận định của một đại biểu Quốc hội, diễn biến xuất nhập khẩu cần được đặt trong tổng thể mô hình tăng trưởng, gắn với hội nhập, thu hút đầu tư và yêu cầu gia tăng giá trị trong nước. Tổng vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, vốn FDI thực hiện hơn 21 tỷ USD, mức cao nhất 5 năm. Đây là dòng vốn sẽ tiếp tục kéo nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất, đồng thời tạo năng lực xuất khẩu mới. Triển vọng cán cân thương mại những tháng cuối năm phụ thuộc vào việc xuất khẩu có tiếp tục tăng tốc và nhập khẩu đầu vào có chậm lại hay không. Nếu Việt Nam chỉ tập trung vào con số kim ngạch thương mại 1.200 tỷ USD mà bỏ qua bài toán nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, giảm phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu, thì quy mô lớn sẽ không đồng nghĩa với sức khỏe kinh tế bền vững. Kết luận hợp lý lúc này là: mục tiêu 1.200 tỷ USD nên được coi là bước đệm để tái cơ cấu xuất nhập khẩu theo hướng cân bằng hơn, thay vì là đích đến cuối cùng.






