Luật Dầu khí sửa đổi: bước ngoặt pháp lý cho CCS và năng lượng ngoài khơi
Sửa đổi Luật Dầu khí là quá trình Quốc hội cập nhật hành lang pháp lý dầu khí để bổ sung hoạt động thu giữ lưu trữ carbon, phát triển năng lượng ngoài khơi và tái sử dụng mỏ cạn kiệt, qua đó biến không gian dầu khí truyền thống thành nền tảng cho chuỗi giá trị năng lượng gắn với mục tiêu Net Zero trong dài hạn. Chiều 8/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên. Các đại biểu thống nhất rằng luật hiện hành không còn theo kịp yêu cầu phát triển mới, biến động thị trường năng lượng và thực tiễn triển khai, nên cần được hoàn thiện để tháo gỡ điểm nghẽn và khơi thông nguồn lực cho ngành dầu khí. Điểm then chốt là lần đầu tiên CCS và năng lượng ngoài khơi được đưa vào cấu trúc luật ở các chương riêng biệt, cho thấy tư duy dầu khí đang chuyển từ khai thác một lần sang quản lý tài nguyên như hệ sinh thái năng lượng.

Thu giữ lưu trữ carbon: từ ý tưởng môi trường đến chiến lược tái sử dụng mỏ cũ
Nếu trước đây mỏ hết hạn khai thác chủ yếu được xem là gánh nặng đóng giếng, thì với thu giữ lưu trữ carbon, chúng trở thành tài sản chiến lược cho chuyển dịch năng lượng. Các đại biểu nhấn mạnh CCS là lĩnh vực mới nhưng giữ vai trò then chốt trong mục tiêu giảm phát thải và chuyển dịch năng lượng. Đáng chú ý, chủ trương tận dụng công trình dầu khí hiện hữu và cấu trúc địa chất phù hợp để lưu trữ carbon nhận được sự đồng thuận rộng rãi. Điều đó buộc Luật Dầu khí sửa đổi phải ghi nhận rõ quyền nghiên cứu, đề xuất chuyển đổi các mỏ đã hoặc sắp kết thúc khai thác thành cơ sở lưu trữ carbon, trong một thời hạn nhất định dành cho nhà thầu hiện hữu. Ở chiều ngược lại, nhà thầu CCS phải chịu các chuẩn kỹ thuật, an toàn môi trường riêng, đồng nghĩa CCS không còn là phụ lục thiện chí mà là một hoạt động công nghiệp với trách nhiệm dài hạn.

Phân định CCS gắn dầu khí và CCS độc lập: đường ranh quyết định dòng vốn
Luật không rõ ràng thì CCS sẽ bị mắc kẹt giữa nhiều cơ chế quản lý và dòng vốn khó chảy vào dự án. Các ý kiến chỉ ra sự chồng chéo hiện tại giữa dự án CCS gắn với hợp đồng dầu khí và dự án CCS độc lập ở các điều 48, 49, 50. Đề xuất sửa Điều 48 theo hướng khuyến khích tận dụng công trình dầu khí để triển khai CCS gắn với hoạt động dầu khí dưới khuôn khổ Luật Dầu khí mở ra khả năng tích hợp CCS như “giai đoạn mới” của mỏ, không cần thêm một tầng giấy phép. Trong khi đó, dự án CCS độc lập cần được xác định rõ phạm vi điều chỉnh và thực hiện theo pháp luật chuyên ngành liên quan. Một yêu cầu then chốt khác là luật hóa trách nhiệm sau khi dự án kết thúc: thời hạn hủy giếng, thu dọn công trình, quan trắc sau đóng cửa, điều kiện bàn giao và trách nhiệm tài chính của nhà đầu tư. Đây chính là những điều khoản sẽ quyết định liệu nghĩa vụ dài hạn nằm ở doanh nghiệp hay lại quay về Nhà nước.

Nghĩa vụ tài chính, tín chỉ carbon và rủi ro chuyển gánh nặng về ngân sách
CCS không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà là cấu trúc nghĩa vụ tài sản kéo dài hàng chục năm. Nhận định CCS mở ra khả năng tái sử dụng mỏ cạn kiệt và hạ tầng dầu khí hiện hữu nhưng đồng thời tạo ra nghĩa vụ giám sát dài hạn kể cả sau khi hợp đồng dầu khí chấm dứt, các đại biểu đề nghị Luật phải đặt nguyên tắc bắt buộc về ký quỹ, bảo đảm tài chính hoặc bảo hiểm trách nhiệm tại Điều 49, giao Chính phủ quy định mức cụ thể. Nếu không, rủi ro là các nghĩa vụ tài chính dài hạn cuối cùng chuyển sang Nhà nước. Trên bình diện thị trường carbon, đề xuất đưa nguyên tắc vào Điều 51 rằng việc chuyển giao tín chỉ carbon ra nước ngoài phải tránh tính trùng và không làm tổn hại đến Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Một khung pháp lý dầu khí thông minh phải bảo vệ cả ngân sách lẫn uy tín quốc gia trong các thỏa thuận carbon xuyên biên giới.
Chuỗi giá trị năng lượng ngoài khơi: dầu khí không còn là điểm cuối
Điểm táo bạo của Luật Dầu khí sửa đổi nằm ở chỗ nó nhìn không gian biển như một nền tảng năng lượng ngoài khơi Net Zero chứ không chỉ là nơi khai thác dầu khí. Lần đầu tiên, khung pháp lý cho phát triển năng lượng ngoài khơi được đưa vào luật tại các chương riêng, cùng với CCS. Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng khẳng định phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí có ý nghĩa trong việc hình thành các chuỗi giá trị mới, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu quả khai thác. Theo các ý kiến, cần tiếp tục xây dựng khung pháp lý cho các dự án CCS độc lập và điện gió ngoài khơi quy mô thương mại, vốn chưa có quy định đồng bộ, và Chính phủ phải sớm ban hành văn bản chi tiết cho hai chương này ngay khi luật có hiệu lực. Khi đó, những địa phương có biển có thể chủ động cập nhật quy hoạch không gian kinh tế biển, biến giàn khoan, đường ống, dữ liệu địa chất thành hạ tầng chung cho chuỗi giá trị năng lượng ngoài khơi Net Zero.






