Điện hạt nhân Ninh Thuận: Bước ngoặt chiến lược nhưng rủi ro không nhỏ
Điện hạt nhân Ninh Thuận là chương trình phát triển hai nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam, gồm Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 tại khu vực nay thuộc tỉnh Khánh Hòa, với tổng công suất dự kiến 4.000-6.400 MW giai đoạn 2030-2035, được thiết kế trở thành nguồn điện nền công suất lớn, vận hành ổn định, hỗ trợ tích hợp năng lượng tái tạo và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Trọng tâm của câu chuyện không phải chỉ là xây thêm nhà máy điện, mà là Việt Nam đang quay lại con đường năng lượng nguyên tử với tham vọng dài hạn và trách nhiệm chính trị rất lớn. Sau gần một thập kỷ tạm dừng vì lo ngại an toàn sau Fukushima và sức chịu đựng của nền kinh tế, Quốc hội đã quyết nghị tiếp tục chủ trương đầu tư điện hạt nhân Ninh Thuận vào cuối năm 2024. Đây là quyết định cho thấy lãnh đạo tin rằng đã đến lúc phải có một nguồn điện nền mới để giữ an ninh năng lượng thay vì chỉ trông chờ vào nhiệt điện và điện tái tạo. Vấn đề là: chúng ta có thực sự sẵn sàng về an toàn hạt nhân và năng lực quản trị hay chưa?
Công nghệ Nga VVER-1200: Cơ hội tăng tốc hay phụ thuộc dài hạn?
Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 được xác định là công trình điện hạt nhân đầu tiên trong lịch sử, và Nga trở thành đối tác công nghệ trung tâm trong dự án này. Không phải ngẫu nhiên mà lò phản ứng VVER-1200 thế hệ III+ của Rosatom đã được lựa chọn cho Ninh Thuận 1. Đây là lò nước áp lực công suất 1.200 MW, đang được sử dụng tại 7 nước trên thế giới, từ Nga, Belarus đến Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Hungary, Ai Cập và Trung Quốc. Theo thỏa thuận liên chính phủ, VVER-1200 sẽ được đưa sang Việt Nam cùng một khoản vay có mục tiêu từ phía Nga để tài trợ dự án.
Về mặt kỹ thuật, VVER-1200 được quảng bá là "kỳ quan công nghệ hạt nhân" với hệ thống loại bỏ nhiệt thụ động, hệ thống làm lạnh vùng hoạt khẩn cấp và việc Rosatom dành tới 40% tổng chi phí xây dựng lò cho hệ thống an toàn, đủ để đáp ứng các yêu cầu của IAEA. Câu hỏi đáng đặt ra là: lựa chọn công nghệ Nga giúp Việt Nam rút ngắn đường cong học hỏi hay đẩy chúng ta vào thế phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất trong suốt vòng đời dự án, từ nhiên liệu, bảo dưỡng đến xử lý chất thải? Sự phụ thuộc đó chỉ chấp nhận được nếu đi kèm chuyển giao tri thức thực chất, chứ không dừng ở các gói hợp đồng trọn gói khép kín.

EVN và bài toán năng lực: từ nhà quản lý điện sang chủ thể hạt nhân
Được Chính phủ giao làm chủ đầu tư Ninh Thuận 1 từ tháng 2/2025, Tập đoàn Điện lực Việt Nam phải bước vào vai trò hoàn toàn mới: không chỉ là đơn vị vận hành lưới điện, mà là chủ thể chịu trách nhiệm toàn bộ vòng đời một nhà máy điện hạt nhân. EVN công khai đặt trọng tâm vào chuẩn bị đồng bộ năng lực quản lý, công nghệ, nhân lực và hạ tầng, trong đó an toàn và an ninh hạt nhân là yêu cầu xuyên suốt. Theo chính EVN, Ninh Thuận 1 phải được coi là quá trình hình thành năng lực làm chủ công nghệ hạt nhân chứ không chỉ là một công trình xây dựng mới.
Điều đáng ghi nhận là EVN không né tránh vấn đề an toàn. Tập đoàn định hướng xây dựng văn hóa an toàn ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án, gắn yêu cầu này với từng khâu quản lý, thiết kế, thi công và vận hành. Họ nói đến việc chuẩn bị đội ngũ quản lý dự án, chuyên gia an toàn, kỹ sư vận hành, nhân lực bảo dưỡng, kiểm soát chất lượng, an ninh, y tế và ứng phó sự cố, đồng thời chú trọng tiếp nhận và phát triển tri thức hạt nhân từ tài liệu kỹ thuật đến dữ liệu thiết kế. Nhưng vấn đề là, chuyển từ kinh nghiệm vận hành nhiệt điện và thủy điện sang điện hạt nhân không thể chỉ dựa vào tinh thần. Cần có cơ chế tuyển chọn, đào tạo, đãi ngộ và giám sát độc lập đủ mạnh để văn hóa an toàn hạt nhân không bị bào mòn bởi sức ép tiến độ và chi phí.

Mục tiêu 2030-2035 và tác động với người dân
Theo Viện Năng lượng, hai dự án Ninh Thuận 1 và 2 đã được đưa trở lại cơ cấu nguồn trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh giai đoạn 2030-2035 với tổng công suất 4.000-6.400 MW. Mỗi nhà máy được dự kiến đạt 2.000-3.200 MW, mục tiêu vận hành trong giai đoạn 2031-2035. Về lý thuyết, đây sẽ là nguồn điện nền công suất lớn, vận hành 7.000-8.000 giờ/năm với hệ số khả dụng 85-90%, giúp cân bằng cung–cầu và hỗ trợ tích hợp nguồn tái tạo biến động. Ninh Thuận 1 được kỳ vọng bổ sung nguồn điện ổn định cho hệ thống điện quốc gia và tạo thêm điều kiện phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị, du lịch, kinh tế biển và các phụ tải quan trọng tại Khánh Hòa, Nam Trung Bộ.
Với người dân, tác động không dừng ở việc "đỡ cắt điện". Hai nhà máy sẽ kéo theo một chuỗi việc làm trong xây dựng, vận tải, logistics tại địa phương, đồng thời đặt lên bàn câu hỏi về phân bố rủi ro: cư dân vùng ven nhà máy sẽ sống cùng nhà máy hạt nhân trong nhiều thập niên, trong khi lợi ích điện năng phân bổ trên toàn quốc. Quyết định chính sách vì thế phải đi kèm cơ chế minh bạch, giám sát công khai và tham vấn cộng đồng chứ không thể chỉ dựa vào khẩu hiệu phát triển. Nếu không, điện hạt nhân dễ trở thành biểu tượng phát triển trên giấy hơn là một giải pháp được xã hội chấp nhận.
Xây nền năng lượng nguyên tử và an toàn hạt nhân: phải là cuộc chơi quốc gia
Việt Nam không thể coi Ninh Thuận 1 và 2 là các dự án đơn lẻ. Tám năm tạm dừng đã cho thấy điện hạt nhân gắn với những biến động kinh tế vĩ mô, các bài học đau đớn từ sự cố quốc tế và sức ép dư luận. Lần tái khởi động này, hai dự án được đặt trong chương trình dài hạn về an ninh năng lượng và mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, đòi hỏi sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương, EVN và PVN, cùng yêu cầu rất cao về công nghệ, an toàn và quản trị. Địa phương nơi đặt nhà máy đề xuất hình thành chương trình quốc gia về chuỗi cung ứng, công nghiệp hỗ trợ và đào tạo nhân lực điện hạt nhân, hướng tới biến Khánh Hòa thành địa bàn đào tạo, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật năng lượng nguyên tử.
Ở cấp thể chế, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh ưu tiên trước mắt là hoàn thiện khung pháp lý, quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật cho toàn bộ vòng đời nhà máy, xác định rõ thẩm quyền và bảo đảm năng lực cho cơ quan quản lý chuyên ngành trong thẩm định, cấp phép, giám sát. Song song, Việt Nam được khuyến nghị hợp tác quốc tế để tiếp nhận các thiết kế lò mô-đun nhỏ (SMR) có độ trưởng thành cao, đồng thời đầu tư dài hạn vào nghiên cứu, thẩm định, thiết kế trong nước và xây dựng cơ quan pháp quy, nhân lực, công nghiệp hạt nhân bản địa. Ninh Thuận 1 dùng công nghệ Nga với hỗ trợ tài chính từ Nga, nhưng nếu cả hệ thống không chủ động phát triển năng lực an toàn hạt nhân, dự án sẽ luôn đứng trên nền tảng ngoại lực mong manh. Điện hạt nhân chỉ có ý nghĩa khi trở thành cuộc chơi quốc gia, với tri thức, tiêu chuẩn và giám sát thuộc về chính chúng ta.






