Thiếu sách giáo khoa: vấn đề không chỉ là vài phần trăm
Tình trạng thiếu sách giáo khoa là hiện tượng nhiều địa phương, trường học và học sinh chưa được cung ứng đủ số lượng, chủng loại sách đúng thời điểm năm học bắt đầu, khiến việc dạy và học bị gián đoạn dù tỷ lệ thiếu hụt không lớn trên tổng nhu cầu. Đây không chỉ là trục trặc hậu cần thông thường, mà là dấu hiệu cảnh báo những lỗ hổng trong dự báo nhu cầu, tổ chức cung ứng sách giáo khoa và khả năng phối hợp giữa Bộ Giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và các địa phương. Chính vì vậy, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức nhận trách nhiệm về thiếu sách giáo khoa và công khai nguyên nhân cần được nhìn như bước khởi đầu cho một cuộc “đại tu” chuỗi cung ứng sách giáo khoa 2026-2027, chứ không phải lời xin lỗi mang tính đối phó.
Theo báo cáo, các đợt thiếu sách giáo khoa cục bộ đã xuất hiện từ giữa tháng 8 và kéo dài sang cả thời điểm sau khai giảng, dù trước đó Bộ đã có nhiều công văn yêu cầu bảo đảm cung ứng sách giáo khoa. Đến 18 giờ ngày 14/9, các địa phương vẫn còn thiếu hơn 3,9 triệu cuốn, tương đương khoảng 1,5% tổng nhu cầu sách giáo khoa 2026-2027. Con số 1,5% nghe có vẻ nhỏ, nhưng đằng sau là hàng trăm nghìn học sinh – đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa – phải vào năm học mới trong tình trạng chưa đủ sách, trong khi phụ huynh phải tất tả săn lùng từng bộ sách mới. Nói cách khác, đây là một khủng hoảng nhỏ về tỷ lệ, nhưng lớn về tác động xã hội.

Báo cáo cung ứng sách giáo khoa 2026-2027 nói gì về nguyên nhân?
Bản báo cáo cung ứng sách giáo khoa 2026-2027 không né tránh câu hỏi quan trọng nhất: vì sao thiếu sách khi kế hoạch in ấn đã được chuẩn bị từ trước. Bộ công bố số liệu nhu cầu cập nhật là 245,94 triệu bản, kế hoạch in 228,9 triệu bản, nhưng thực tế đã cung ứng tới khoảng 236,60 triệu bản cho các địa phương. Sự chênh lệch này cho thấy vấn đề thiếu sách giáo khoa không nằm đơn thuần ở việc in quá ít, mà nằm ở chỗ dự báo và phân bổ sai, khiến nơi thừa, nơi thiếu, cung ứng sách giáo khoa bị đứt gãy ở nhiều khâu.
Về nguyên nhân khách quan, Bộ thừa nhận năm học 2026-2027 hội tụ nhiều yếu tố mới: lần đầu tiên triển khai một bộ sách giáo khoa dùng thống nhất toàn quốc theo nghị quyết; một số địa phương áp dụng chính sách hỗ trợ, cấp hoặc cho mượn sách; việc sắp xếp lại đơn vị hành chính và mạng lưới trường lớp làm thay đổi nhanh số lượng học sinh và lớp học. Thời gian từ khi xác định đầy đủ nhu cầu đến thời điểm phải đáp ứng lại rất ngắn, trong khi in ấn, vận chuyển và phân phối cần nhiều khâu chuẩn bị. Hệ quả là nhu cầu biến động lớn trong thời gian ngắn, tạo sức ép lên hệ thống cung ứng sách giáo khoa vốn chưa được quản trị bằng dữ liệu thời gian thực.
Bộ Giáo dục nhận trách nhiệm: lời thú nhận muộn nhưng cần thiết
Điểm đáng chú ý nhất trong báo cáo là lần này Bộ Giáo dục và Đào tạo không giấu mình sau các lý do khách quan như trước. Bộ thẳng thắn nhận trách nhiệm rằng công tác dự báo, tổng hợp và phân tích nhu cầu sách giáo khoa trong điều kiện mới chưa theo kịp thực tế, dẫn đến quyết định in ấn và phân bổ không sát nhu cầu. Bộ cũng thừa nhận đã đánh giá chưa đầy đủ năng lực sản xuất, quản trị và mạng lưới cung ứng của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, trong khi các giải pháp khắc phục hạn chế trong tổ chức cung ứng, điều phối nguồn sách lại không đủ nhanh và linh hoạt.
Báo cáo nêu rõ: trách nhiệm để xảy ra tình trạng thiếu sách giáo khoa cục bộ thuộc về ba chủ thể – Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và các địa phương. Công tác đăng ký, dự báo và phối hợp cung ứng ở một số địa phương chưa chủ động, việc cập nhật nhu cầu phát sinh sau các điều chỉnh về trường, lớp, chính sách hỗ trợ và nhu cầu mua thêm của học sinh, cha mẹ học sinh bị chậm. Đáng chú ý, Bộ đánh giá đây là “tồn tại, hạn chế cần nghiêm túc nhìn nhận, chấn chỉnh, khắc phục, không để lặp lại trong những năm học tiếp theo”, đặc biệt trong theo dõi, dự báo, kết nối dữ liệu, kiểm tra, đôn đốc và điều phối khi nhu cầu thực tế biến động.
Tác động tới phụ huynh, học sinh và những giải pháp cấp tốc
Nếu chỉ nhìn vào tỷ lệ thiếu 1,5%, nhiều người dễ xem đây là “sự cố nhẹ”. Nhưng trên thực tế, thiếu sách giáo khoa đã tạo ra sức ép rất lớn lên phụ huynh và học sinh. Thiếu sách xảy ra đúng giai đoạn cận kề khai giảng, buộc cha mẹ phải xếp hàng mua sách từ sớm, thậm chí sau ngày khai trường vẫn phải tiếp tục săn sách giáo khoa 2026-2027 cho con. Ở nhiều nơi, nhà sách trong tình trạng trống kệ, trong khi lớp đã học, bài đã giao, khiến những em chưa có sách rơi vào tình cảnh học nhờ, chép vội hoặc phải mượn tạm bạn bè.
Trước sức ép dư luận, Bộ đã tổ chức họp trực tuyến với 34 sở giáo dục và báo cáo chuyên đề tại Hội nghị giao ban báo chí Trung ương, đồng thời yêu cầu các địa phương liên tục rà soát, cập nhật số liệu thiếu sách và báo cáo trước 16 giờ mỗi ngày để xử lý ngay. Sau cuộc họp do Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chủ trì về tình hình cung ứng sách, Bộ đưa ra kế hoạch “chữa cháy”: điều chuyển ngay sách từ nơi thừa sang nơi thiếu, tiếp tục in bổ sung, công khai điểm bán và đường dây nóng, duy trì tổ phản ứng nhanh 24/7 đến hết tháng 9. Trong thời gian chờ bản in, sách giáo khoa điện tử được cung cấp miễn phí, đồng thời khuyến khích trường học khai thác sách thư viện và sách cũ còn dùng được để hạn chế ảnh hưởng đến việc học.
Cam kết lâu dài: từ “xin lỗi” đến thay đổi cách quản lý sách giáo khoa
Điểm then chốt là Bộ có dừng ở mức nhận lỗi hay chuyển sang thay đổi cấu trúc quản lý cung ứng sách giáo khoa. Trong báo cáo, Bộ khẳng định đã xác định đây là “tồn tại, hạn chế” cần khắc phục triệt để, không để lặp lại, đặc biệt trong giám sát, dự báo, kết nối dữ liệu và điều phối khi nhu cầu biến động. Trước mắt, Bộ tập trung xử lý số sách còn thiếu đã được xác nhận; chỉ đạo Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam điều chuyển sách giữa các địa bàn, tiếp tục in và cung ứng bổ sung theo nhu cầu thực tế, ưu tiên vùng khó khăn, trường nội trú, học sinh thuộc diện được hỗ trợ hoặc cho mượn sách giáo khoa.
Về lâu dài, Bộ nêu định hướng rõ ràng: rà soát, đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý sách giáo khoa theo hướng xem đây là sản phẩm, dịch vụ công, mặt hàng thiết yếu đặc thù; quản trị toàn bộ chuỗi cung ứng dựa trên dữ liệu thống nhất, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp; xây dựng cơ chế dự phòng và điều phối linh hoạt để bảo đảm cung ứng chủ động, ổn định ngay từ đầu mỗi năm học. Bộ cũng yêu cầu Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam rà soát năng lực sản xuất, quản trị và mạng lưới cung ứng, khắc phục điểm nghẽn, xây dựng cơ chế phản ứng nhanh khi nhu cầu biến động. Vấn đề còn lại là mức độ thực thi: nếu không có kỷ luật dữ liệu, cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng và minh bạch số liệu cung ứng sách giáo khoa, lời cam kết dù hay đến đâu cũng dễ rơi vào lãng quên.






