Khủng hoảng thiếu nhân lực hạt nhân: điểm nghẽn số một
Khủng hoảng thiếu nhân lực hạt nhân là tình trạng hệ thống đào tạo và sử dụng lao động chuyên ngành hạt nhân phát triển không theo kịp quy mô, tốc độ và độ phức tạp của các dự án lò phản ứng nghiên cứu, điện hạt nhân và ứng dụng y học, dẫn đến nguy cơ kế hoạch mở rộng công nghệ hạt nhân bị chậm hoặc không vận hành an toàn như kỳ vọng. Việt Nam đang ở đúng tâm điểm của khủng hoảng này. Dù đã làm chủ một số kỹ thuật và vận hành hiệu quả lò Đà Lạt, mức độ ứng dụng năng lượng nguyên tử vẫn thấp hơn nhiều so với tiềm năng vì thiếu người đủ trình độ để mở rộng quy mô. Nguyên nhân không chỉ là kinh phí đào tạo, mà sâu xa hơn là cái nhìn phiến diện: hạt nhân thường bị gắn với bom và chất nổ, trong khi đây là công nghệ có thể phục vụ y tế, công nghiệp, nông nghiệp và môi trường. Nếu không coi nhân lực là hạ tầng cứng, mọi chiến lược hạt nhân sẽ chỉ đẹp trên giấy.

Lò phản ứng Đồng Nai: tham vọng gấp 30 lần, nhân lực ở đâu?
Việc triển khai lò phản ứng Đồng Nai với công suất dự kiến gấp khoảng 30 lần lò Đà Lạt là bước nhảy vọt hiếm có trong lịch sử năng lượng nguyên tử nước ta. Lò Đà Lạt chỉ 0,5 MW nhưng hiện cung cấp khoảng 80% dược chất phóng xạ cho các bệnh viện toàn quốc để chẩn đoán và điều trị ung thư. Khi số ca ung thư ước tính khoảng 180.000 ca mắc mới mỗi năm, nhu cầu mở rộng chủng loại và sản lượng dược chất là cấp thiết. "Đặc biệt, dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân với lò phản ứng nghiên cứu mới tại Đồng Nai được kỳ vọng tạo bước chuyển về năng lực nghiên cứu, sản xuất đồng vị phóng xạ và cung cấp dược chất phục vụ chẩn đoán, điều trị ung thư". Vấn đề là một cơ sở nghiên cứu quy mô như vậy không thể vận hành an toàn và hiệu quả nếu đội ngũ kỹ sư hạt nhân, nhà vật lý lò phản ứng và chuyên gia an toàn bức xạ vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đồng Nai đang mở ra cơ hội sống còn cho bệnh nhân ung thư, nhưng cũng phơi bày khoảng trống nhân lực đào tạo bài bản.

Điện hạt nhân Ninh Thuận 2 và bài toán 2.500 chuyên gia
Khi hai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 được xem xét tái khởi động cùng định hướng lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR), áp lực nhân lực sẽ tăng theo cấp số nhân. Một nhà máy điện hạt nhân có thể cần khoảng 1.000 người, trong đó 700–800 vị trí vận hành, kỹ thuật và hỗ trợ, còn nhân lực cốt lõi khoảng 200–300 chuyên gia. Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử đặt mục tiêu đến năm 2030 phải có khoảng 2.000 nhân lực và đến 2035 khoảng 2.500 người cho cả quản lý nhà nước, nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật và vận hành điện hạt nhân. Đây không phải con số đẹp để trưng bày trong báo cáo, mà là ngưỡng tối thiểu để đảm bảo an toàn, bởi như phía Hàn Quốc nhấn mạnh, yếu tố an toàn trong điện hạt nhân là "không thể thương lượng". Nếu Việt Nam không nhanh chóng xây dựng nguồn nhân lực, việc nói đến SMR hay chuỗi công nghiệp hạt nhân quốc gia sẽ còn rất xa vời.

Đào tạo kỹ sư hạt nhân: từ gửi người ra nước ngoài đến xây khoa trong nước
Điểm đáng lo là đến nay Việt Nam vẫn chưa có một khoa đào tạo đầy đủ về công nghệ điện hạt nhân trong nước. Vì thiếu trường lớp chuyên sâu, chúng ta phải tiếp tục gửi cán bộ, sinh viên ra nước ngoài đào tạo, trong khi nhu cầu đang lan rộng từ lò phản ứng tới y tế, công nghiệp, nông nghiệp và năng lượng. TS Trần Chí Thành đã nói thẳng rằng Việt Nam cần xây dựng năng lực tự đào tạo nhân lực hạt nhân trong nước, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn đào tạo bên ngoài. Giải pháp được đề xuất là mở từ 1–2 khoa Công nghệ hạt nhân tại các đại học kỹ thuật hàng đầu ở Hà Nội và TP.HCM, với chương trình đạt chuẩn quốc tế. Đồng thời, Viện Năng lượng nguyên tử và Bộ Khoa học và Công nghệ sẵn sàng tổ chức các khóa đào tạo cho cán bộ địa phương, bộ, ngành khi có nhu cầu đưa kỹ thuật hạt nhân vào đời sống kinh tế – xã hội. Nếu các khoa này không ra đời kịp thời, lò Đồng Nai và Ninh Thuận 2 sẽ thiếu đội ngũ kế cận.

Hợp tác Việt–Hàn năng lượng: cơ hội bứt phá nếu dám học dài hạn
Trong chuyến công tác tại Hàn Quốc và Nhật Bản ngày 30/9, đoàn Bộ Khoa học và Công nghệ do Bộ trưởng Vũ Hải Quân dẫn đầu đã thúc đẩy hợp tác chiến lược về điện hạt nhân, AI, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong bối cảnh điện hạt nhân được xác định là hướng ưu tiên đến năm 2035, tầm nhìn 2050, nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng năng lực quốc gia đủ mạnh để quản lý, vận hành an toàn và từng bước làm chủ công nghệ. Phía Hàn Quốc khẳng định mong muốn hợp tác toàn diện, bao gồm dự án Ninh Thuận 2, từ khâu xây dựng nhà máy, chia sẻ kinh nghiệm vận hành, bảo đảm an toàn đến đào tạo nhân lực và phát triển chuỗi công nghiệp phụ trợ, sẵn sàng chuyển giao công nghệ. Đây là cơ hội hiếm có để Việt Nam đẩy nhanh đào tạo kỹ sư hạt nhân thông qua các chương trình chuyên sâu, làm việc thực tế và luân chuyển cán bộ. Nếu chúng ta coi hợp tác Việt–Hàn năng lượng là trục chính của chiến lược nhân lực dài hạn, khoảng cách về kinh nghiệm 40 năm của Hàn Quốc có thể được rút ngắn đáng kể; nếu xem đó chỉ là vài dự án rời rạc, khủng hoảng thiếu nhân lực hạt nhân sẽ tiếp tục kéo dài.






