Lấn biển: định nghĩa và làn sóng mới trong phát triển ven biển
Lấn biển trong phát triển ven biển là quá trình các đô thị mở rộng không gian xây dựng bằng cách tạo đất mới trên vùng biển ven bờ, nhằm bổ sung quỹ đất cho nhà ở, công nghiệp, cảng biển, dịch vụ và hạ tầng, nhất là tại những thành phố ven biển đang thiếu đất do mật độ dân số cao và nhu cầu kinh tế tăng nhanh. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà là lựa chọn chiến lược, thay đổi cấu trúc không gian đô thị và tương tác giữa thành phố với hệ sinh thái biển. Xu thế này đang tăng tốc ở Đông Nam Á, khi nhiều thành phố ven biển chọn lấn biển thay vì tiếp tục dày đặc hóa khu vực nội đô, kéo theo cả cơ hội phát triển ven biển và những rủi ro dài hạn cho môi trường.
Ở tầm khu vực, Singapore là ví dụ điển hình về việc biến vùng biển ven bờ thành đất đô thị, diện tích quốc đảo tăng từ 581,5km2 năm 1965 lên khoảng 744,3km2 vào năm 2025. Kinh nghiệm này cho thấy lấn biển không chỉ để giải bài toán thiếu đất ở mà còn để mở rộng quy hoạch đô thị ven biển, dành quỹ đất mới cho công nghiệp, giao thông, cảng biển và các hạ tầng chiến lược. Song song, nhiều đô thị ven biển ở Sri Lanka, Malaysia và Philippines cũng đang theo đuổi các dự án phát triển không gian đô thị ven biển hoặc lấn biển quy mô lớn với mục tiêu từ bổ sung đất ở đến xây dựng trung tâm thương mại, cảng biển, khu đô thị mới.
Sơn Hải: một xã đảo nhỏ bước vào cuộc chơi lấn biển Đông Nam Á
Nếu Singapore hay các đô thị lớn là những biểu tượng toàn cầu, thì trường hợp xã đảo Sơn Hải cho thấy làn sóng lấn biển đã chạm đến những cộng đồng nhỏ, xa bờ trong khu vực. Chiều 1/10, UBND xã Sơn Hải tổ chức hội nghị công bố Quy hoạch chung xã Sơn Hải đến năm 2050, tỷ lệ 1/5.000. Phạm vi quy hoạch bao trùm toàn bộ địa giới hành chính với diện tích khoảng 405,49ha, dân số hiện khoảng 2.812 người, dự kiến tăng lên khoảng 5.000 người vào năm 2035 và 7.000 người vào năm 2050. Đây là con số khiêm tốn nếu so với các siêu đô thị, nhưng đủ để tạo sức ép lớn lên quỹ đất tự nhiên hạn chế của xã đảo. Quyết định lấn biển ở Sơn Hải vì thế mang tính lựa chọn sinh tồn: hoặc mở rộng ra biển, hoặc chấp nhận bị kìm hãm bởi không gian phát triển chật hẹp.
Quy hoạch Sơn Hải dự kiến khoảng 140,7ha khu vực lấn biển tại Hòn Heo, Hòn Ngang, Hòn Thơm - Hòn Khô - Hòn Ba Vồ và Hòn Lò, tạo thêm không gian cho các chức năng đô thị, dân cư, dịch vụ và hạ tầng trong điều kiện quỹ đất tự nhiên hạn chế. Trong đó, khu lấn biển Hòn Heo rộng khoảng 60ha được định hướng trở thành hạt nhân phát triển mới, nơi sẽ hình thành trung tâm hành chính - thương mại - dịch vụ với trụ sở chính quyền, trung tâm phục vụ hành chính công, trường học, khu dân cư thương mại - dịch vụ, trung tâm văn hóa, công viên, quảng trường và hạ tầng thiết yếu. "Những định hướng theo quy hoạch tạo thêm không gian phát triển dân cư, dịch vụ, du lịch và hạ tầng cho Sơn Hải, đồng thời tăng khả năng kết nối giữa xã đảo với đất liền và các đảo lân cận". Đó là tham vọng mở rộng thành phố ven biển ở quy mô xã đảo, nhưng bản chất logic không khác các đại đô thị trong khu vực.
Những mô hình lấn biển: từ Pulau Tekong, Songdo đến bài học cho Đông Nam Á
Để nhìn rõ hơn cơ hội và rủi ro, cần so sánh các mô hình lấn biển đã đi trước trong khu vực. Ở Singapore, dự án lấn biển đầu tiên tạo khoảng 800ha đất ở phía Tây Bắc đảo Pulau Tekong bằng phương pháp polder, đắp đê bao rồi bơm nước ra ngoài, tạo đất khô thấp hơn mực nước biển. Kỹ thuật này giúp giảm gần 50% lượng cát so với lấn biển truyền thống, một chi tiết quan trọng trong bối cảnh khai thác cát gây nhiều hệ lụy môi trường. Singapore đồng thời cấm lấn lên đảo nhỏ Pulau Unum kế cận để bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì một kênh nước giữa khu lấn biển và đảo nhằm bảo đảm trao đổi nước, tạo điều kiện cho rừng ngập mặn phát triển. Đây là cách quy hoạch đô thị ven biển không đối đầu hoàn toàn với tự nhiên, mà tìm không gian thỏa hiệp giữa phát triển và bảo tồn.
Ở Hàn Quốc, khu đô thị quốc tế Songdo tại thành phố Incheon được xây dựng trên khoảng 600ha đất lấn biển và đến nay đã hoàn thành 75% tổng thể, định hình như một đô thị hiện đại, tích hợp công nghệ, giao thông, không gian xanh và các chức năng kinh tế - dịch vụ trong một khu vực được quy hoạch gần như từ con số 0. Nhưng cái giá môi trường không nhỏ: quá trình xây dựng đã làm giảm diện tích đất ngập nước và quần thể chim di cư; những sinh cảnh nhân tạo có lượng chim thấp hơn đáng kể so với các sinh cảnh tự nhiên còn lại. Đồng thời, thách thức địa chất và sụt lún luôn thường trực, khi đất mới tạo ra không có đặc tính ổn định như nền đất tự nhiên lâu đời. Thành phố Incheon phải dùng dữ liệu vệ tinh Sentinel-1 kết hợp đo cao độ tại hiện trường để theo dõi biến dạng mặt đất, quan trắc liên tục trước khi mở rộng xây dựng.
Cơ hội phát triển ven biển và cái giá môi trường cho người dân
Nhìn từ người dân, lấn biển không phải chuyện bản đồ mà là chuyện đời sống rất cụ thể. Ở Sơn Hải, quy hoạch không gian mới cho phép hình thành một trung tâm hành chính - thương mại - dịch vụ tập trung, với các cơ quan nhà nước, trường học, khu dân cư thương mại - dịch vụ, trung tâm văn hóa, công viên, quảng trường và các công trình hạ tầng thiết yếu. Song song đó, hệ thống cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải và các công trình thiết yếu sẽ được đầu tư đồng bộ để đáp ứng quy mô dân số dự kiến đến năm 2050. Người dân từ chỗ sống phân tán trên nhiều hòn đảo nhỏ có thể tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn, sử dụng hạ tầng hiện đại hơn. Các khu nuôi trồng thủy sản được tổ chức lại, trong đó có mô hình nuôi cá, nhuyễn thể kết hợp du lịch, mở thêm nguồn thu nhập nếu được triển khai công bằng, không đẩy ngư dân ra ngoài rìa.
Ở Singapore, các cụm công trình lấn biển được ưu tiên thiết kế có nguồn điện tại chỗ, hệ thống xử lý và tái sử dụng nước, xử lý chất thải tại chỗ và kết nối giao thông đa dạng. Cách làm này giảm lượng nước thải phát sinh, giảm phụ thuộc vào việc xử lý hay vận chuyển nước sạch từ nơi khác, đồng thời giảm số lượng đường ống, tuyến cáp và tăng khả năng duy trì hoạt động khi biển động hoặc thiên tai. Tuy vậy, việc nâng cao cốt nền lên ít nhất 4m so với mực nước biển trung bình để ứng phó nước biển dâng cho thấy phát triển ven biển không thể bỏ qua kịch bản khí hậu xấu nhất. Người dân hưởng lợi từ hạ tầng tốt hơn, nhưng cũng sống trên mặt đất luôn cần được theo dõi độ lún, chịu rủi ro khi thiên tai cực đoan gặp hạ tầng chưa kịp thích nghi. Cơ hội và rủi ro ở đây gắn chặt, không thể tách rời bằng những khẩu hiệu dễ nghe.
Kết luận: Lấn biển không thể là cuộc chạy đua bằng mọi giá
Làn sóng lấn biển Đông Nam Á rõ ràng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà là lựa chọn chính trị, kinh tế và xã hội. Khi các đô thị ven biển đồng loạt mở rộng ra ngoài đất liền, từ Singapore với Pulau Tekong đến những xã đảo nhỏ như Sơn Hải, khu vực đang bước vào một giai đoạn tái định nghĩa quan hệ giữa con người và biển. Về lý, lấn biển giúp mở rộng quy hoạch đô thị ven biển, giải quyết sức ép đất đai, tạo không gian cho trung tâm hành chính - thương mại - dịch vụ, cảng biển, khu du lịch và các hạ tầng mới. Nhưng thực tế từ Songdo cho thấy ít nhất hai cái giá phải trả: mất sinh cảnh tự nhiên và rủi ro kỹ thuật về nền đất, sụt lún, an toàn khi thiên tai.
Vấn đề không phải là có lấn biển hay không, mà là lấn biển theo mô hình nào, với mức độ tham vọng ra sao và trách nhiệm môi trường đến mức nào. Những kinh nghiệm như giữ lại đảo Pulau Unum và rừng ngập mặn ở Singapore, hay yêu cầu quan trắc biến dạng mặt đất liên tục ở Incheon, cần được xem như tiêu chuẩn tối thiểu cho bất kỳ dự án lấn biển Đông Nam Á nào. Với các cộng đồng ven biển nhỏ như Sơn Hải, nguyên tắc càng phải chặt: không biến biển thành nền bê tông thiếu kiểm soát, không đánh đổi sinh kế ngư dân lấy các khu thương mại hào nhoáng. Lấn biển có thể là cơ hội để tái thiết mô hình phát triển ven biển công bằng và bền vững hơn, nhưng chỉ khi các thành phố chọn đi chậm mà chắc, thay vì chạy đua mở rộng không gian đô thị rồi để lại khoảng trống an toàn và môi trường cho thế hệ sau phải trả.






