Mục tiêu xuất khẩu cần đi cùng cách làm mới
Phát triển thủy sản bền vững là tổ chức sản xuất sao cho năng suất và giá trị tăng lên, đồng thời kiểm soát tác động đến môi trường trên toàn chuỗi từ con giống đến tiêu thụ. Đây là phép thử quan trọng với mục tiêu xuất khẩu của Đồng Tháp, chứ không chỉ là khẩu hiệu tăng sản lượng. Ngày 21/10/2026, UBND tỉnh ban hành Quyết định 3303/QĐ-UBND, phê duyệt đề án phát triển thủy sản giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2050; mục tiêu là đưa kim ngạch xuất khẩu lên 1,2 tỷ USD vào năm 2030. Đề án xác định năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng làm trụ cột, kết nối giống, nuôi trồng, khai thác, chế biến, logistics và tiêu thụ. Hướng đi này hợp lý vì sản xuất phân tán khó bảo đảm đồng đều chất lượng, truy xuất nguồn gốc và khả năng đáp ứng đơn hàng.

Tổ chức lại vùng nguyên liệu để giảm cảnh mạnh ai nấy làm
Đồng Tháp đặt mục tiêu đến năm 2030 có 24,36 nghìn ha nuôi trồng và sản lượng thủy sản khoảng 1,4 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm khoảng 1,28 triệu tấn. Nhưng quy mô chỉ có ý nghĩa nếu được điều chỉnh theo sức mua, năng lực chế biến và điều kiện môi trường. Đề án chủ trương liên kết vùng nước ngọt với vùng nước lợ, nước mặn và ven biển, đồng thời hình thành chuỗi khép kín cho cá tra từ con giống đến nuôi thương phẩm, chế biến và tiêu thụ. Doanh nghiệp kết nối thị trường; hợp tác xã và tổ hợp tác tổ chức sản xuất, cung cấp dịch vụ chung. Với người dân, các mô hình lúa–cá, lúa–tôm càng xanh, cá–sen hay nuôi thủy sản trong mương vườn gắn với du lịch mở thêm lựa chọn sinh kế. Điều chỉnh mùa vụ và sản lượng theo đầu ra cũng giúp hạn chế cảnh cung vượt cầu.

Chế biến sâu mới giữ được phần giá trị ở lại địa phương
Tổ chức lại vùng nuôi sẽ khó tạo đột phá nếu thủy sản vẫn chủ yếu được bán dưới dạng nguyên liệu. Đồng Tháp đặt mục tiêu đạt 480.000 tấn thủy sản chế biến xuất khẩu vào năm 2030, tăng sản lượng chế biến trên 6% mỗi năm; sản phẩm chế biến giá trị gia tăng được kỳ vọng chiếm trung bình trên 40% giá trị xuất khẩu. Đây là lý do chế biến thủy sản sâu phải trở thành trọng tâm đầu tư, thay vì chỉ mở rộng công suất sơ chế. Tỉnh đặt mục tiêu trên 70% cơ sở chế biến xuất khẩu có năng lực công nghệ từ trung bình tiên tiến trở lên, đồng thời khuyến khích đa dạng hóa sản phẩm và sử dụng nguyên liệu hiệu quả. Phần da, mỡ, xương cá hay vỏ tôm cũng không nên bị xem là rác: chúng có thể được chế biến thành collagen, gelatin, dầu cá tinh luyện, đạm thủy phân, chitosan và phân bón hữu cơ.
Công nghệ xanh là điều kiện để tăng trưởng không trả giá bằng môi trường
Khi sản lượng nuôi tăng, thức ăn dư thừa, chất thải hữu cơ và phụ phẩm chế biến gây sức ép lên chất lượng nước và sức chịu tải của hệ sinh thái. Vì vậy, kinh tế biển xanh và thủy sản bền vững phải được hiểu bằng những thay đổi cụ thể trong sản xuất. Hệ thống nuôi tuần hoàn RAS tái sử dụng nước qua lọc và xử lý; mô hình nuôi đa dinh dưỡng tích hợp IMTA tận dụng chất dinh dưỡng từ loài này cho loài khác, giảm tải lượng chất hữu cơ 30–60% so với nuôi đơn loài và có thể nâng hiệu quả sản xuất 10–20%. Đồng Tháp cũng đặt mốc đến năm 2027 hoàn thành hệ thống điều hành số ngành thủy sản, sơ kết đề án năm 2028; đến năm 2030, ít nhất 70% cơ sở nuôi chủ lực áp dụng nhật ký điện tử và toàn bộ cơ sở chế biến xuất khẩu dùng truy xuất nguồn gốc điện tử. Mục tiêu xuất khẩu chỉ bền vững khi công nghệ xanh trở thành tiêu chuẩn vận hành, không phải phần việc làm thêm.






