Bồi thường giải phóng mặt bằng: động lực hạ tầng hay nguồn cơn bất công?
Bồi thường giải phóng mặt bằng trong các dự án hạ tầng Việt Nam là quá trình Nhà nước thu hồi đất, định giá tài sản và tổ chức tái định cư đất đai cho người dân bị ảnh hưởng, nhằm vừa bảo đảm tiến độ công trình, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của người có đất. Khi quá trình này vận hành sai, nó không chỉ làm chậm dự án mà còn tạo ra vết thương pháp lý kéo dài, gây mất niềm tin vào chính sách và để lại gánh nặng tài chính cho cả Nhà nước lẫn người dân. Đây không còn là những sai sót đơn lẻ, mà là dấu hiệu một cơ chế đang mệt mỏi, chắp vá và thiếu trách nhiệm giải trình.
Thanh tra tỉnh An Giang vừa công bố kết luận thanh tra công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng tại dự án đường Hồ Chí Minh, đoạn Rạch Sỏi – Bến Nhứt, Gò Quao – Vĩnh Thuận, với tổng mức đầu tư hơn 3.900 tỷ đồng và kinh phí bồi thường hơn 657,2 tỷ đồng. Nghĩa là ngay cả một dự án trọng điểm được giám sát chặt vẫn xuất hiện hàng loạt vi phạm. Ở TP.HCM, 108 hộ dân tại phường Tây Nam phải chờ hơn một thập kỷ để được nhận bổ sung hơn 19 tỷ đồng tiền hỗ trợ do chi trả chậm, có hộ nhận trên 620 triệu đồng. Cùng lúc, tại một nút giao trên Vành đai 3, giá bồi thường đất ở dự thảo lên đến gần 82 triệu đồng/m2, cao hơn rất nhiều so với mặt bằng nhiều khu vực khác. Những con số này cho thấy cùng một chính sách, nhưng trải nghiệm thực tế của người dân lại chênh lệch rõ rệt.

Vụ An Giang: Khi sai phạm thủ tục làm méo mó chính sách bồi thường
Dự án đường Hồ Chí Minh đoạn Rạch Sỏi – Bến Nhứt, Gò Quao – Vĩnh Thuận có chiều dài gần 52 km, trong đó hơn 45 km đi qua An Giang, khoảng 6,6 km qua Cà Mau và được khởi công từ tháng 3 với tổng đầu tư hơn 3.900 tỷ đồng. Tuy nhiên, kết luận thanh tra cho thấy hệ thống thực hiện chính sách bồi thường ở đây không vận hành như được thiết kế. 13 trường hợp bị thu hồi đất nhưng chưa được chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất – một bước tưởng như thuần kỹ thuật nhưng lại là “cửa ngõ” pháp lý quyết định quyền lợi lâu dài của người dân.
Nghiêm trọng hơn, việc lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường bị xác định là “chưa đúng quy định”: 4 trường hợp nhận chuyển nhượng bằng giấy tay không đủ điều kiện tách thửa, 12 trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất và 19 trường hợp chưa xác định xong chủ sử dụng đất. Việc áp giá bồi thường nhà mồ của một hộ dân được xác định chênh lệch cao hơn quy định, với số tiền chênh hơn 421,5 triệu đồng. Đây là minh chứng cho một thực tế: chỉ cần một mắt xích lỏng lẻo trong khâu thẩm định, toàn bộ hệ thống bồi thường giải phóng mặt bằng có thể biến thành mảnh đất màu mỡ cho khiếu nại, khiếu kiện.
Thanh tra tỉnh đã kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm đối với nhiều cá nhân liên quan công tác bồi thường, đồng thời yêu cầu Trung tâm Phát triển quỹ đất thu hồi hơn 187,8 triệu đồng nộp ngân sách và hơn 972 triệu đồng trả lại nguồn kinh phí dự án. Câu hỏi đặt ra là: liệu kiểm điểm và thu hồi tiền có đủ để khôi phục niềm tin khi người dân nhìn thấy rằng vi phạm bồi thường chỉ bị xử lý sau khi sai phạm đã “xong việc”?
TP.HCM: Bồi thường trả chậm và cái giá của sự chần chừ hành chính
Ở một thái cực khác, vụ chi trả tiền hỗ trợ chậm cho người dân bị giải tỏa tại dự án nâng cấp mở rộng đường ĐT.744 ở phường Tây Nam cho thấy bồi thường giải phóng mặt bằng không chỉ là câu chuyện “đúng – sai” pháp lý, mà còn là vấn đề thời gian. Dự án được chấp thuận đầu tư, bồi thường, giải tỏa từ năm 2008 với tổng kinh phí hơn 835 tỷ đồng; nhưng đến năm 2011 mới áp dụng phương án bồi thường và đến năm 2014 mới chi trả cho người dân. Khoảng trống thời gian đó đã kéo theo một khoảng trống niềm tin.
Phải đến ngày 22/9, 108 hộ dân mới được nhận thêm hơn 19 tỷ đồng tiền hỗ trợ vì phần chi trả chậm, có hộ nhận hơn 620 triệu đồng, hộ thấp nhất trên 22 triệu đồng. Một phát biểu có thể trích dẫn ở đây là: “108 hộ dân được nhận tiền hỗ trợ bồi thường, giải phóng mặt bằng do chi trả chậm với tổng số tiền trên 19 tỷ đồng”. Chính quyền phường giải thích nguyên nhân chậm chi trả xuất phát từ “lịch sử triển khai dự án” và yêu cầu đảm bảo công bằng giữa các hộ. Nhưng đối với người dân, công bằng đến muộn vẫn là thiệt thòi: tiền hỗ trợ đến sau nhiều năm không thể bù đắp toàn bộ chi phí cơ hội, chi phí sinh kế bị gián đoạn và những bất ổn tâm lý kéo dài.
Vấn đề đáng nói là, trong khi hệ thống hành chính loay hoay với tiến độ, người dân bị kẹt giữa hai trạng thái: không còn quyền sử dụng đất như cũ, nhưng cũng chưa nhận đủ nguồn lực để tái thiết cuộc sống. Đây chính là cái giá của sự chần chừ: dự án chậm, chi phí đội lên, và chính sách tái định cư đất đai bị xem như “phần hậu kỳ” thay vì bước đi song hành với thi công.
Chênh lệch bồi thường ở đô thị: Khi đất ở được định giá như vàng, đất nông nghiệp vẫn bị xem nhẹ
Nếu các dự án ở An Giang và đường ĐT.744 cho thấy sự lỏng lẻo trong thủ tục và tiến độ, thì dự án nút giao Gò Công và tuyến nối từ Xa lộ Hà Nội đến Vành đai 3 tại TP.HCM lại phơi bày khoảng cách lớn trong chính sách bồi thường giữa các loại đất. Đây là dự án hạ tầng với tổng mức đầu tư khoảng 12.440 tỷ đồng, dự kiến thu hồi khoảng 54 ha đất, ảnh hưởng khoảng 450 hộ dân, trong đó 190 hộ bị thu hồi 100% đất.
Theo dự thảo phương án bồi thường đang được lấy ý kiến, giá bồi thường đất ở cao nhất gần 82 triệu đồng/m2 tại vị trí 1 trên đường Nguyễn Xiển. Trong khi đó, các vị trí đất ở khác chỉ từ hơn 37,4 đến gần 57 triệu đồng/m2, còn đất nông nghiệp trên cùng trục đường chỉ từ hơn 6,8 đến hơn 9,8 triệu đồng/m2. Sự chênh lệch này phản ánh một logic: đất càng “đô thị”, càng gần giao thông lớn thì càng được định giá cao, còn đất nông nghiệp – dù nằm xen kẽ trong khu dân cư – vẫn bị định giá thấp hơn nhiều. Không ngạc nhiên khi người dân đề nghị phải xác định giá sát với thị trường và xem xét tăng mức bồi thường cho đất nông nghiệp xen kẽ khu dân cư hiện hữu.
Điểm tích cực hiếm hoi là chính quyền phường Long Phước, Long Bình đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến, ghi nhận yêu cầu công khai đơn vị thẩm định giá và sớm công bố chính sách, giá nền tái định cư để người dân chủ động tính toán. Tuy vậy, chừng nào vẫn còn khoảng cách quá lớn giữa giá bồi thường đất ở và đất nông nghiệp, cảm giác “thiệt thòi” sẽ còn ám ảnh nhiều hộ nông dân bị thu hồi đất, nhất là trong những dự án hạ tầng Việt Nam nằm giữa vùng đô thị hóa nhanh.
Từ sai sót cá biệt đến yêu cầu cải cách: Không thể để luật đi sau cuốc máy
Ba câu chuyện – sai phạm thủ tục ở An Giang, chi trả chậm ở đường ĐT.744 và chênh lệch giá bồi thường ở dự án Vành đai 3 – tưởng như rời rạc nhưng lại gặp nhau ở một điểm: hệ thống bồi thường giải phóng mặt bằng đang bị kéo căng giữa mục tiêu phát triển hạ tầng và yêu cầu bảo vệ quyền lợi người dân. Ở đâu đó, cán bộ vẫn coi bồi thường là “khâu phụ”, để đến khi thanh tra mới lộ ra vi phạm bồi thường; ở nơi khác, sự chậm trễ hành chính khiến người dân sống trong trạng thái lưng chừng pháp lý suốt nhiều năm.
Điều cần thiết lúc này không chỉ là thêm vài cuộc kiểm điểm hay vài quyết định thu hồi tiền, mà là một cách tiếp cận khác: coi tái định cư đất đai và bồi thường là phần cốt lõi của dự án, phải hoàn thành song song với thiết kế, đấu thầu và thi công. “Thanh tra tỉnh kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh giao Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh chịu trách nhiệm thu hồi, nộp ngân sách nhà nước số tiền hơn 187,8 triệu đồng; thu hồi nộp trả nguồn kinh phí dự án tổng số tiền hơn 972 triệu đồng” – con số này không nhỏ, nhưng vẫn chỉ là phần nổi của tảng băng chi phí xã hội. Khi pháp luật đã rõ mà thực thi còn chậm, giải pháp duy nhất là siết lại trách nhiệm giải trình: công khai phương án, chuẩn hóa quy trình, ràng buộc trách nhiệm cá nhân. Nếu không, mỗi con đường mới sẽ tiếp tục mở ra thêm một đoạn đứt gãy niềm tin giữa Nhà nước và người dân.






