Bồi thường giải phóng mặt bằng: Khái niệm đúng, thực thi sai
Bồi thường giải phóng mặt bằng là toàn bộ quá trình Nhà nước thu hồi đất cho các dự án, kèm theo việc định giá tài sản, chi trả tiền, hỗ trợ sinh kế và bố trí tái định cư nhằm bảo đảm người dân bị thu hồi đất có điều kiện sống không thấp hơn trước khi dự án triển khai. Trên giấy tờ, quy định khá đầy đủ; nhưng thực tế cho thấy một khoảng cách lớn giữa pháp luật và cách thực thi. Nguyên nhân không chỉ nằm ở thủ tục phức tạp, mà còn ở trách nhiệm hành chính mờ nhạt, tư duy coi đất đai là nguồn lực dự án trước khi coi đó là nơi người dân sinh sống. Các vụ việc gần đây ở An Giang và TP.HCM hé lộ một hệ thống sai sót lặp đi lặp lại: từ lập phương án bồi thường đến quản lý kinh phí, tất cả đều khiến người dân phải chờ đợi trong bức xúc.
Dự án đường Hồ Chí Minh: Thanh tra bóc tách những lớp sai phạm
Kết luận thanh tra tại An Giang về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng dự án đường Hồ Chí Minh đoạn Rạch Sỏi - Bến Nhứt, Gò Quao - Vĩnh Thuận cho thấy một danh sách dài các bất cập. Dự án có chiều dài hơn 51,9 km, kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hơn 657,2 tỷ đồng – con số lớn, nhưng cách sử dụng lại đầy lỗ hổng. Cơ quan thanh tra chỉ ra việc chưa chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 13 trường hợp; lập và phê duyệt phương án bồi thường cho các trường hợp chuyển nhượng “giấy tay”, chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc chưa xác định được chủ sử dụng đất. Đáng báo động hơn, có trường hợp áp giá bồi thường nhà mồ cao hơn quy định với số tiền chênh lệch trên 421,5 triệu đồng, cùng việc trích phần trăm trên kinh phí bồi thường tăng thêm trái quy định, chưa nộp tiền lãi phát sinh hơn 143 triệu đồng vào ngân sách. Những hành vi này không chỉ là lỗi kỹ thuật, mà là biểu hiện của quản lý thiếu minh bạch. Việc kiến nghị kiểm điểm nhiều cá nhân và thu hồi các khoản vi phạm cho thấy hệ thống giám sát đang phải chạy theo để sửa sai, thay vì ngăn ngừa từ đầu.
Người dân TP.HCM chờ bồi thường ĐT.744 suốt hơn một thập kỷ
Trong khi một dự án trọng điểm được thúc đẩy “khẩn trương theo tiến độ”, thì tại TP.HCM, người dân phường Tây Nam phải chờ đợi hơn mười năm để nhận đủ tiền bồi thường liên quan dự án nâng cấp, mở rộng đường ĐT.744. Dự án được phê duyệt chủ trương từ năm 2008, nhưng đến 2011 mới áp dụng phương án bồi thường, và 2014 mới bắt đầu chi trả – tức nhiều năm người dân sống trong thế nửa đi nửa ở, bất định về tương lai đất đai của mình. Đến ngày 22.9, 108 hộ dân mới được nhận khoản hỗ trợ bồi thường do chậm chi trả với tổng số tiền hơn 19 tỷ đồng, trong đó có hộ nhận trên 620 triệu đồng, hộ ít nhất hơn 22 triệu. "Khoản hỗ trợ chậm trả lên tới hơn 620 triệu đồng cho một hộ ở khu phố An Thành" là minh chứng rõ ràng rằng việc chậm trễ không phải chuyện nhỏ, mà tạo thiệt hại thực tế cho người dân. Việc chính quyền giải thích nguyên nhân chậm chi trả bằng "lịch sử triển khai dự án" và yêu cầu bảo đảm công bằng giữa các hộ nghe có vẻ hợp lý, nhưng thực tế cho thấy cơ chế bảo vệ quyền lợi người dân quá yếu: công bằng bị trì hoãn trong khi đời sống bị xáo trộn ngay lập tức.
Khi trách nhiệm hành chính mờ nhạt, người dân gánh mọi rủi ro
Cả hai câu chuyện – đường Hồ Chí Minh ở An Giang và đường ĐT.744 ở TP.HCM – đều chỉ ra một điểm chung: trách nhiệm hành chính không gắn liền với trách nhiệm bảo vệ người dân. Ở An Giang, thanh tra phải kiến nghị kiểm điểm nhiều cá nhân, yêu cầu thu hồi tiền lãi phát sinh, tiền trích phần trăm sai quy định và những khoản kinh phí dự án bị sử dụng không đúng để nộp ngân sách nhà nước. Ở TP.HCM, sau nhiều năm dự án bị gián đoạn, người dân mới nhận được khoản hỗ trợ vì chậm trả bồi thường, trong khi cuộc sống đã phải điều chỉnh từ lâu. Khi thủ tục bồi thường giải phóng mặt bằng bị kéo dài, tiền bị gửi ngân hàng sinh lãi mà không nộp ngân sách, hay phương án tái định cư dự án được lập chưa đúng quy định, thông điệp rất rõ: hệ thống quan tâm đến tiến độ và dòng tiền của dự án hơn là sự ổn định của khu dân cư. Đó là lý do người dân phải chờ đợi hàng năm – thậm chí cả thập kỷ – chỉ để nhận những quyền lợi vốn dĩ phải được bảo đảm ngay từ khi Nhà nước quyết định thu hồi đất.
Muốn người dân không còn “chờ bồi thường”, phải thay đổi cách phân xử trách nhiệm
Nếu chỉ dừng ở việc kiểm điểm vài cá nhân, thu hồi vài trăm triệu đồng lãi phát sinh hay khoản bồi thường áp sai, chúng ta mới xử lý phần nổi của tảng băng. Gốc rễ nằm ở cơ chế phân quyền – nơi các trung tâm phát triển quỹ đất, phòng chuyên môn và UBND cấp cơ sở được giao trách nhiệm lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, nhưng chế tài với các quyết định sai, chậm hoặc thiếu minh bạch lại quá nhẹ. Trong bối cảnh các dự án hạ tầng ngày càng lớn và phức tạp, câu hỏi không phải là có bồi thường hay không, mà là bồi thường thế nào để tránh biến tái định cư dự án thành "tái nghèo" cho người dân. Muốn vậy, cần công khai quy trình, ràng buộc rõ trách nhiệm cá nhân, buộc người đứng đầu chịu trách nhiệm nếu chậm trả bồi thương hoặc ban hành phương án sai quy định. Khi hệ thống coi chậm trễ và sai sót là ngoại lệ cần bị xử lý nghiêm, thay vì “thực tế ngành”, lúc đó người dân mới có thể tin rằng mỗi quyết định thu hồi đất gắn liền với một cam kết công bằng thực chất chứ không chỉ là lời hứa trên giấy.






