Từ cửa khẩu truyền thống đến khu kinh tế biên giới tích hợp
Khu kinh tế thương mại Lao Bảo - Densavan là mô hình thí điểm tạo ra một không gian kinh tế chung giữa hai khu kinh tế biên giới của Việt Nam và Lào, nhằm chuyển hoạt động thương mại từ giao thương cửa khẩu đơn lẻ sang kết nối sâu hơn với thị trường, chuỗi cung ứng khu vực và chuỗi giá trị bền vững thông qua cơ chế, hạ tầng và chính sách được thiết kế đồng bộ hai bên biên giới. Điểm đáng nói là Quảng Trị và Savannakhet không còn nhìn cửa khẩu chỉ như nơi hàng hóa đi qua, mà như hạt nhân của một hệ sinh thái kinh tế xuyên biên giới. Hai bên đang hoàn thiện đề án, hồ sơ và nội dung Hiệp định thí điểm, tập trung vào mô hình tổ chức, cơ chế vận hành, thời hạn thí điểm và chính sách đặc thù về đầu tư, kinh doanh, thương mại, logistics, đi lại và sử dụng lao động. Đây là lựa chọn mang tính chủ động, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào giao dịch biên mậu manh mún, dễ biến động theo mùa vụ. Theo kế hoạch, hai bên phấn đấu hoàn thành chuẩn bị để trình Chính phủ ký Hiệp định vào tháng 12/2026; Bộ Công Thương được giao chủ trì các thủ tục liên quan đến ký kết giữa hai Chính phủ. Khi được kích hoạt, Lao Bảo - Densavan có cơ hội trở thành hình mẫu của khu kinh tế biên giới thế hệ mới, nơi biên giới là cầu nối phát triển chứ không phải là ranh giới chia cắt.
Không gian kinh tế chung: Bước nhảy cho thương mại Việt - Lào
Cốt lõi của mô hình Lao Bảo - Densavan là hai nước vẫn duy trì hai khu kinh tế nhưng cùng hình thành một không gian kinh tế chung, với một số cơ chế, chính sách thuận lợi hơn quy định thông thường của mỗi bên. Đây là cách tiếp cận khác hẳn tư duy "mỗi bên một cửa khẩu" vốn chỉ xử lý khâu thông quan, ít tạo động lực cho sản xuất và đầu tư dài hạn. Theo Bộ Công Thương, tuyến biên giới hiện có 9 cửa khẩu quốc tế, 6 cửa khẩu chính, 18 cửa khẩu phụ, 27 lối mở và 9 khu kinh tế cửa khẩu. Hạ tầng dày đặc là lợi thế, nhưng nếu vẫn vận hành theo lối cũ, biên giới khó trở thành động lực tăng trưởng cho thương mại Việt - Lào. Mô hình không gian chung cho phép doanh nghiệp mở rộng đầu tư, sản xuất, kinh doanh qua biên giới, tăng kết nối hàng hóa và logistics, tạo thêm việc làm và thu nhập cho cư dân biên giới. Một thay đổi đáng chú ý trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Lào là doanh nghiệp hai nước đang có xu hướng tìm kiếm hợp tác sâu hơn thay vì chỉ dừng ở xuất nhập khẩu; họ từng bước liên kết chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối tại thị trường của nhau. Khu kinh tế thương mại chung chính là hạ tầng thể chế để xu hướng này diễn ra bài bản, thay vì phụ thuộc vào các thỏa thuận riêng lẻ.

Hợp tác Quảng Trị – Savannakhet: Từ vị trí hành lang đến chuỗi cung ứng khu vực
Lợi thế của Lao Bảo và Densavan không chỉ nằm ở đường biên mà ở vị trí trên Hành lang kinh tế Đông – Tây; với Quảng Trị và Savannakhet, đây là hướng khai thác sâu hơn lợi thế mà họ đang nắm giữ. Nếu Hiệp định được ký kết, hai khu kinh tế sẽ có thêm cơ sở để chuyển từ ý tưởng liên kết sang một không gian kinh tế xuyên biên giới thực chất hơn. Về thể chế, trong quá trình xây dựng Đề án, hai địa phương đã cùng rà soát các nội dung liên quan đến thương mại, đầu tư, logistics, xuất nhập khẩu, đất đai, lao động và cư trú. Về hạ tầng, Quảng Trị điều chỉnh quy hoạch khu vực Cửa khẩu Lao Bảo với quy mô 49,2 ha, trong đó có 8,58 ha dành cho khu cảng cạn Vsico Quảng Trị – một mắt xích quan trọng để tổ chức vận chuyển, tập kết và thông quan hàng hóa trong bối cảnh thương mại qua biên giới được mở rộng. Tỉnh cũng nghiên cứu Trung tâm logistics thông minh Lao Bảo khoảng 21,87 ha, kết nối cửa khẩu với ICD và mạng lưới vận tải xuyên biên giới, ứng dụng Smart Gate, camera AI, quản lý phương tiện, bãi và trung tâm điều hành, nhằm rút ngắn thời gian chờ, giảm chi phí logistics và tăng năng lực phục vụ hàng hóa qua cửa khẩu. Nếu các hạng mục này chậm trễ, lợi thế vị trí của Lao Bảo – Densavan rất dễ bị các tuyến biên giới khác vượt qua.
Tại sao chuyển từ giao thương cửa khẩu sang chuỗi giá trị bền vững?
Xúc tiến thương mại khu vực biên giới đang định hướng chuyển từ giao thương cửa khẩu sang kết nối thị trường và chuỗi giá trị bền vững. Điều này phù hợp với bức tranh rộng hơn: quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới cho thấy dư địa hợp tác còn rất lớn. Riêng với Lào, cơ cấu hàng hóa trao đổi ngày càng thể hiện rõ tính bổ trợ, dịch chuyển từ nhóm hàng tiêu dùng, nguyên liệu truyền thống sang gắn kết nhu cầu sản xuất, năng lượng và chuỗi cung ứng của hai nền kinh tế. Theo Tham tán Thương mại Trần Thị Tú Anh, doanh nghiệp hai nước đang tăng cường liên kết chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối tại thị trường của nhau. Nếu xúc tiến thương mại vẫn chỉ xoay quanh vài hội chợ ở cửa khẩu, khả năng biến các cuộc gặp gỡ thành hợp đồng thực tế sẽ rất hạn chế. Ngược lại, khi gắn xúc tiến với phát triển logistics, kho ngoại quan, trung tâm phân phối, chế biến sâu và từng bước phát triển cửa khẩu thông minh, biên giới có thể trở thành điểm kết nối giữa sản xuất, logistics, thương mại, dịch vụ và thị trường. Một sản phẩm có thị trường nhưng chi phí logistics cao, thời gian thông quan dài hoặc thiếu kho bãi, kho lạnh, cơ sở bảo quản thì sức cạnh tranh vẫn bị hạn chế. Vì vậy, nếu Lao Bảo – Densavan không đột phá về chuỗi cung ứng khu vực, rất khó trở thành trung tâm thương mại chứ đừng nói tới một không gian kinh tế chung.
Cửa khẩu thông minh và mục tiêu mở rộng dư địa thương mại
Một nền tảng quan trọng cho tham vọng mở rộng thương mại là Hiệp định Thương mại Việt Nam – Lào được ký tháng 4/2024, hướng tới mở rộng tiếp cận thị trường hàng hóa, dịch vụ và tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu. Trên cơ sở đó, hai bên đặt mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương trên 4 tỷ USD trong năm 2026 và hướng tới 10 tỷ USD vào năm 2030; đây là mục tiêu tham vọng, nhưng được đặt trên nền tảng tăng trưởng thương mại khá cao trong hai năm gần đây. Để giao thương với Lào hiệu quả hơn, phương thức xúc tiến thương mại ở khu vực biên giới được yêu cầu thay đổi theo hướng hiện đại. Định hướng là từng bước hình thành một không gian xúc tiến hiện đại, trong đó cửa khẩu không chỉ là nơi hàng hóa đi qua mà trở thành điểm kết nối giữa sản xuất, logistics, thương mại, dịch vụ và thị trường. Do đó, kết nối xúc tiến thương mại với phát triển logistics, kho ngoại quan, trung tâm phân phối, chế biến sâu và cửa khẩu thông minh phải đi cùng tiến trình hoàn thiện khu kinh tế biên giới. Nếu không giải bài toán hạ tầng logistics và thể chế, doanh nghiệp địa phương vẫn sẽ đối mặt chi phí cao, thời gian chờ dài; một sản phẩm dù có thị trường cũng khó đứng vững. Lao Bảo – Densavan vì thế là phép thử: hoặc trở thành cửa ngõ của chuỗi cung ứng khu vực, hoặc tiếp tục là điểm nghẽn trên hành lang Đông – Tây.






