Kinh tế biển đa tầng là gì và vì sao Việt Nam buộc phải chuyển hướng?
Kinh tế biển đa tầng là mô hình tổ chức không gian biển nơi nhiều ngành như nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, công nghiệp và năng lượng tái tạo biển, du lịch biển đảo, logistics hàng hải và đô thị ven biển cùng tồn tại, tương tác và gia tăng giá trị cho nhau, dựa trên quản trị hiện đại thay vì khai thác tài nguyên đơn tuyến.
Việt Nam là quốc gia có diện tích biển gấp khoảng ba lần diện tích đất liền và 21/34 tỉnh, thành phố giáp biển, nhưng kết quả phát triển vẫn chưa tương xứng tiềm năng. Hạ tầng, dịch vụ hậu cần và các ngành kinh tế biển chưa kết nối thành hệ sinh thái, khiến giá trị gia tăng thấp và phụ thuộc khai thác tài nguyên thô. Sở hữu hơn 3.260 km bờ biển cùng hàng nghìn hòn đảo, nếu Việt Nam tiếp tục phát triển manh mún, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội lịch sử để bứt phá thành quốc gia biển mạnh. Vấn đề không còn là “khai thác được bao nhiêu”, mà là tổ chức không gian để “tạo ra những giá trị gì và như thế nào”.

Nghị quyết 20-NQ/TW: Từ kinh tế biển sang quốc gia biển mạnh
Trọng tâm của Nghị quyết 20-NQ/TW là chuyển mạnh từ phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh, từ khai thác tài nguyên sang quản trị hiệu quả không gian biển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật, mà là thay đổi “hệ điều hành” của kinh tế biển Việt Nam.
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước, với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân trên 11%/năm và thu nhập bình quân tại địa phương ven biển cao hơn 1,2–1,3 lần bình quân cả nước. Đây là tiêu chuẩn mới cho kinh tế biển Việt Nam: không gian ven biển phải trở thành động lực chính của tăng trưởng. Để làm được điều đó, Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đấu giá, đăng ký và cấp giấy chứng nhận sử dụng, khai thác không gian biển, quy định rõ quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn và cho thuê lại. Nói thẳng, nếu không có quyền tài sản rõ ràng trên biển, thì mọi khẩu hiệu về kinh tế biển chỉ dừng ở lời nói.
Không gian kinh tế biển đa tầng: từ nuôi biển công nghệ cao tới năng lượng tái tạo
Mô hình kinh tế biển đa tầng mà các doanh nghiệp tiên phong phân tích gồm ít nhất 5 tầng chiến lược, trong đó tầng nền là khai thác và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao. Ngành thủy sản đang chuyển từ khai thác ven bờ sang nuôi biển công nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học, lồng nuôi HDPE, IoT và quản lý chuỗi giá trị, giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên và nâng cao giá trị xuất khẩu. Câu chuyện hai bè cá bớp với 75 ô lồng của một hộ dân ở Lý Sơn, đầu tư tới 2 tỷ đồng với một nửa là vốn vay ngân hàng, cho thấy nuôi trồng thủy sản đã thành ngành kinh doanh vốn lớn, không còn là nghề “đánh bắt mưu sinh”.
Tầng thứ hai là công nghiệp biển và năng lượng tái tạo biển, với điện gió ngoài khơi, dầu khí, đóng tàu và logistics biển trở thành động lực mới. Cuối tháng 8/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 1941/QĐ-NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng ưu tiên tín dụng cho hạ tầng biển, dầu khí, hàng hải, logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp ven biển, du lịch biển, dịch vụ biển và nuôi biển công nghệ cao. Đây là bước đi tài chính cần thiết để biến định hướng chính sách thành dự án cụ thể. Nếu không mở cửa nguồn vốn, “không gian kinh tế biển đa tầng” chỉ là khái niệm đẹp trên giấy.
Logistics hàng hải, du lịch biển và vai trò của người dân ven biển
Một tầng quan trọng khác của kinh tế biển đa tầng là dịch vụ logistics và kinh tế hàng hải, nơi hệ thống cảng biển, trung tâm trung chuyển và chuỗi cung ứng toàn cầu tạo lực đẩy cho toàn bộ hệ sinh thái. Tuy nhiên, hiện nay hạ tầng hậu cần và đô thị ven biển chưa hình thành hệ sinh thái đồng bộ, gây lãng phí vị trí trên tuyến hàng hải quốc tế. Theo kế hoạch hành động mới, các tổ chức tín dụng được yêu cầu cân đối nguồn vốn để đầu tư hạ tầng biển, logistics và du lịch biển, đồng thời cải tiến quy trình cấp tín dụng cho phù hợp thực tế các ngành kinh tế biển.
Trong khi đó, du lịch biển đảo cao cấp và các đô thị ven biển là tầng kinh tế tạo thương hiệu và sức hút quốc tế cho không gian biển. Nhưng nếu chỉ xây khu nghỉ dưỡng cao cấp mà bỏ quên đời sống người dân biển, mô hình này sẽ mất tính bền vững. Các chi nhánh ngân hàng vùng biển thừa nhận rằng ở địa bàn khó khăn như miền núi, hải đảo, không thể chỉ nhìn vào tài sản bảo đảm mà phải đánh giá phương án sản xuất, khả năng phục hồi và nhu cầu thực tế, đẩy mạnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ, mô hình chế biến, du lịch cộng đồng và kinh tế biển. Mọi chính sách nếu không nâng cao đời sống người dân biển thì không thể tạo động lực để họ gắn bó và cùng làm giàu từ biển.
Từ khẩu hiệu tới thực thi: quản trị hiện đại là “tấm vé” thành quốc gia biển mạnh
Nghị quyết 20-NQ/TW đặt ra tầm nhìn rõ: biến biển thành không gian sinh tồn, động lực tăng trưởng và nền tảng sức mạnh quốc gia. Nhưng để đi từ nghị quyết đến thực tế, Việt Nam phải đối mặt với biến đổi khí hậu, xâm thực bờ biển, ô nhiễm và khai thác quá mức, cùng với điểm nghẽn hạ tầng xã hội biển đảo còn thiếu thốn. Nếu chỉ chạy theo dự án đơn lẻ, không gian biển sẽ bị chia cắt bởi lợi ích ngắn hạn. Việt Nam cần các cơ chế chính sách đặc biệt, đủ hấp dẫn để dẫn dắt mọi nhu cầu phát triển, đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và xây dựng nền kinh tế biển xanh, hiện đại.
Theo các chuyên gia, tư duy chuyển từ “khai thác tài nguyên” sang “quản trị không gian biển” mới là chìa khóa để kinh tế biển Việt Nam thoát khỏi tình trạng tăng trưởng theo chiều rộng. Quote: “Phấn đấu đến năm 2030, tổng GRDP các tỉnh ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước; thu nhập bình quân vùng ven biển cao hơn 1,2–1,3 lần bình quân cả nước”. Con số này chỉ khả thi nếu Việt Nam xây dựng được hệ sinh thái đa tầng: nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, năng lượng tái tạo biển, logistics hàng hải và du lịch biển cùng vận hành trong một cấu trúc được quản trị minh bạch, có tài sản rõ ràng và dòng vốn thông suốt. Con đường trở thành quốc gia biển mạnh vì thế không phải lựa chọn, mà là yêu cầu sinh tồn trong kỷ nguyên mới.






