Quy hoạch sông Hồng: đại lộ cảnh quan 40 km hay phép thử về công bằng đô thị?
Quy hoạch sông Hồng là đề án tổ chức lại không gian đô thị hai bên sông trên diện tích hơn 11.400 ha, dọc tuyến dài khoảng 40 km từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, nhằm biến sông Hồng thành trục cảnh quan sinh thái – văn hóa kết hợp phát triển giao thông, công viên, khu chức năng đô thị và khu dân cư hiện hữu trong tầm nhìn phát triển 100 năm.
Điều đáng chú ý là dự án không chỉ là một bản vẽ hạ tầng, mà là phép thử xem Hà Nội có thể phát triển đô thị Hà Nội mà không hi sinh cộng đồng địa phương hay không. UBND thành phố đã báo cáo phương án điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5.000, làm cơ sở triển khai Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Từ hôm nay, thành phố tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, chuyên gia và cộng đồng dân cư đối với hồ sơ điều chỉnh này. Đây không chỉ là thủ tục pháp lý mà còn là cam kết rằng người dân không đứng ngoài cuộc chơi quy hoạch.

Tầm nhìn 100 năm: từ nghị quyết đến không gian đô thị ba lớp
Quy hoạch sông Hồng không phải ý tưởng ngẫu hứng; nó bám trực tiếp Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết yêu cầu quy hoạch tổng thể với tầm nhìn 100 năm, cấu trúc “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái – văn hóa chủ đạo. Nói cách khác, sông Hồng được nâng cấp từ “ranh giới thoát lũ” thành xương sống kết nối các cực tăng trưởng và không gian văn hóa, sinh thái của Thủ đô.
Trên nền đó, khu vực quy hoạch 11.418 ha được định hướng thành một không gian đô thị mới dọc sông Hồng, kết hợp giao thông, công viên, dịch vụ, nhà ở, sinh thái và các giá trị văn hóa truyền thống. Không gian được tổ chức theo ba lớp địa hình: trên 11,5 m dành cho xây dựng mới; từ 9,5–11,5 m ưu tiên công trình thích ứng và khu dân cư hiện hữu; dưới 9,5 m dành cho phục hồi sinh thái, giao thông chậm và đường dạo. Đây là cách tiếp cận đáng khen: chấp nhận sống cùng sông nước, thay vì san lấp, bê tông hóa mọi thứ.
Cả tuyến được chia thành ba phân đoạn quản lý, với khung tầng cao tối đa 30–45 tầng và mật độ xây dựng khác nhau cho dịch vụ, nhà ở, công viên. Dự báo dân số toàn khu khoảng 800.000–1,2 triệu người. Câu hỏi đặt ra là: khi dân số tăng gấp nhiều lần so với hiện trạng 279.525 người, liệu chất lượng sống và bản sắc ven sông có được giữ đúng như cam kết ban đầu hay không.

Không “xóa sổ” làng xóm: tái định cư Hà Nội có thực sự lấy người dân làm trung tâm?
Điểm mạnh nhất – nhưng cũng là lời hứa dễ bị soi nhất – của quy hoạch sông Hồng là tuyên bố không đặt mục tiêu di dời toàn bộ khu dân cư hiện hữu. Thay vì “quét sạch” bãi sông, Hà Nội chọn hướng tái định cư Hà Nội ưu tiên tại chỗ: chỉ di dời, tái thiết ở những khu không bảo đảm an toàn phòng, chống và thoát lũ; với các làng xóm lâu đời ngoài khu “phòng khách đô thị”, định hướng là giữ lại, cải tạo và chỉnh trang lõi làng, kiểm soát mật độ, tầng cao và không tăng dân số cơ học.
Quỹ đất tái định cư tại chỗ và lân cận dự kiến khoảng 265 ha, trong đó khu đô thị đa mục tiêu Thư Lâm – Đông Anh khoảng 736,84 ha, dự kiến bố trí khoảng 9.000 lô đất thấp tầng và 23.000 căn hộ tái định cư, nhà ở xã hội. Đối với những trường hợp phải thu hồi đất, thành phố xác định nguyên tắc ưu tiên duy trì địa bàn sinh sống, sinh kế và sự gắn kết cộng đồng, đồng thời bảo đảm nơi ở mới có điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Một câu nói có thể trích dẫn ở đây là: “Những trường hợp đủ điều kiện pháp lý để được bồi thường dự kiến được áp dụng mức bồi thường bằng tiền gấp 2 lần mức quy định”.
Về mặt lý thuyết, đó là bước tiến lớn về bảo vệ cộng đồng địa phương. Nhưng thực tế sẽ phụ thuộc vào cách xác định “đủ điều kiện pháp lý”, tiến độ bố trí tái định cư và khả năng giữ sinh kế ven sông cho người dân. Nếu làng xóm chỉ được “trang điểm” bề ngoài, còn cư dân cũ bị dạt đi xa, thì khái niệm nhân văn trong quy hoạch sông Hồng sẽ trở nên rỗng nghĩa.
Đại lộ cảnh quan sông Hồng: hạ tầng hiện đại hay nguy cơ bê tông hóa bãi sông?
Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng được định vị là trục chính đô thị chạy dọc hai bên sông, với tuyến Tả Hồng dài khoảng 35 km và Hữu Hồng khoảng 45,35 km, đường chính 6 làn xe cơ giới. Không gian đô thị mới và các công trình dịch vụ được bố trí dọc các trục đường chính; các khu cao tầng tổ chức theo tuyến, mật độ thấp, chiều cao giảm dần về phía đê nhằm bảo đảm tầm nhìn và vi khí hậu. Nếu làm đúng, đây có thể là “phòng khách đô thị” đẹp nhất của Hà Nội, đặc biệt ở phân đoạn từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì được xác định là khu vực trọng tâm.
Dọc bãi sông sẽ hình thành chuỗi công viên đô thị, kết nối với các khu đô thị bằng các trục xanh Đông – Tây; các khu thường xuyên ngập nước phía ngoài đê bối được bố trí công viên bảo tồn tự nhiên. Toàn tuyến dự kiến triển khai 18 dự án thành phần, gồm 2 dự án giao thông thuộc trục đại lộ, 11 dự án công viên, 2 dự án kè, chỉnh trị lòng và bờ sông, cùng 3 dự án đô thị định cư, đa mục tiêu. Về giao thông, quy hoạch tổ chức đồng bộ đường bộ, đường sắt, đường thủy và giao thông công cộng.
Vấn đề là ranh giới giữa “đại lộ cảnh quan sông Hồng” và một dải bê tông khổng lồ rất mong manh. Nếu ưu tiên xe cơ giới lấn át không gian công viên, dạo bộ, nếu kè sông bị cứng hóa quá mức, hệ sinh thái bãi sông sẽ chịu áp lực lớn. Quy hoạch đã phân vùng sinh thái rõ ràng, nhưng bước tiếp theo phải là cam kết kỹ thuật cụ thể để bảo vệ mặt nước, đất nông nghiệp và các vùng ngập tự nhiên hiện nay.
Lấy ý kiến rộng rãi: bảo chứng cho một quy hoạch “mở” hay chỉ là bước thủ tục?
Thành phố đang tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, chuyên gia và cộng đồng dân cư đối với hồ sơ điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở. Việc lấy ý kiến cộng đồng được thực hiện trong 20 ngày kể từ thời điểm công khai hồ sơ, nhằm cho phép người dân góp ý vào phương án tổ chức không gian sông Hồng. Những phương án này sẽ tiếp tục được thẩm định, hoàn thiện và chỉ có giá trị sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Tiến độ triển khai dự án dự kiến từ 2026 đến 2038, với giai đoạn 2026–2030 ưu tiên xây dựng trục đại lộ cảnh quan hai bên sông, kè và chỉnh trị lòng, bờ sông, một số công viên, khu “phòng khách đô thị”, khu đô thị định cư tại Lĩnh Nam, Long Biên và các dự án giải phóng mặt bằng độc lập. Đây là chặng đường dài, đòi hỏi sự giám sát xã hội liên tục. Nếu người dân chỉ được hỏi một lần rồi bị gạt ra ngoài, thì tinh thần “quy hoạch động và mở” mà lãnh đạo Hà Nội nhấn mạnh sẽ mất ý nghĩa.
Kết luận công bằng là: quy hoạch sông Hồng, với tầm nhìn 100 năm và diện tích hơn 11.400 ha, đang cố gắng cân bằng phát triển đô thị Hà Nội với bảo vệ cộng đồng địa phương. Nhưng để lời hứa tái định cư tại chỗ, bảo tồn làng nghề, phát triển công viên sinh thái không trở thành khẩu hiệu, Hà Nội cần coi mỗi ý kiến của người dân ven sông là một “dữ liệu bắt buộc”, chứ không phải chi tiết phụ trên bản vẽ quy hoạch.






