Thiếu sách giáo khoa 2026: Không phải “sự cố nhỏ” mà là cảnh báo hệ thống
Thiếu sách giáo khoa là tình trạng hệ thống cung ứng sách không cung cấp đủ số lượng, đúng thời điểm và đúng nơi cho học sinh, dù kế hoạch in ấn tổng thể về cơ bản đáp ứng, nhưng các khâu dự báo nhu cầu sách, đặt hàng, phân phối và phối hợp giữa trung ương – địa phương – nhà xuất bản bị trục trặc, gây ra cảnh học sinh đã vào năm học mà vẫn chưa có sách đầy đủ. Tình trạng thiếu sách giáo khoa 2026 đầu năm học 2026–2027 đã trở thành tâm điểm chú ý khi học sinh đi học bằng sách mượn, sách cũ hoặc bản điện tử, còn phụ huynh phải xếp hàng “săn” sách sát ngày khai giảng. Vấn đề không nằm ở vài thùng sách giao chậm, mà ở chỗ cả chuỗi cung ứng sách giáo khoa đang bộc lộ những khiếm khuyết mang tính cấu trúc.
Theo báo cáo, đến 18h ngày 14/9, các địa phương vẫn còn thiếu 3.916.370 cuốn, tương đương khoảng 1,5% tổng nhu cầu. Con số nghe có vẻ nhỏ, nhưng mỗi cuốn sách thiếu là một học sinh bị bỏ lại phía sau. Đáng nói hơn, đây là năm đầu tiên cả nước dùng bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” thống nhất, đồng thời nhiều địa phương áp dụng chính sách hỗ trợ, cấp sách giáo khoa miễn phí và sắp xếp lại đơn vị hành chính, trường lớp, khiến nhu cầu tăng vọt so với kế hoạch ban đầu. Khi bối cảnh thay đổi mạnh mà cách quản lý cung ứng sách giáo khoa vẫn theo lối cũ, thiếu sách chỉ là kết quả tất yếu.

Gốc rễ thiếu sách: Dự báo nhu cầu sách sai và sai quy trình tại địa phương
Nếu nhìn toàn chuỗi cung ứng sách giáo khoa 2026, điểm nghẽn nổi bật nhất nằm ở khâu dự báo nhu cầu và đặt hàng từ cơ sở. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam khẳng định việc đứt gãy nguồn cung “xuất phát trực tiếp từ sự thụ động, chậm trễ và thực hiện sai quy trình trong công tác quản lý tại các địa phương”. Đơn vị này không có chức năng tự đi điều tra số học sinh từng trường; kế hoạch in, tái bản và phân phối hoàn toàn phụ thuộc vào dữ liệu đăng ký từ sở, phòng và nhà trường. Khi đầu vào sai, không có phép màu nào giúp đầu ra đúng. Thực tế, tổng nhu cầu cập nhật đã nhảy lên 245,94 triệu bản, trong khi kế hoạch in ban đầu chỉ 228,9 triệu bản và số đã cung ứng khoảng 236,6 triệu bản.
Đáng lo hơn, phần nhu cầu phát sinh tăng gần 69,9 triệu bản, tương đương 39,7% so với dự báo ban đầu trên phạm vi toàn quốc. Đó không còn là sai số kỹ thuật, mà là thất bại của hệ thống dự báo nhu cầu sách. Sau ngày 30/7, nhiều địa phương tiếp tục phát sinh tới bảy đợt đặt hàng mới, có thời điểm nhu cầu bổ sung tăng gần 40% so với lượng đặt ban đầu, vượt xa quỹ dự phòng. Các đơn hàng dồn dập trong thời gian ngắn đẩy nhà xuất bản vào thế bất khả thi nếu muốn giao đủ sách trước khai giảng. Khi chính quyền cấp cơ sở coi việc đăng ký sách giáo khoa là thủ tục phụ, họ đang biến rủi ro hành chính thành gánh nặng trực tiếp trên vai phụ huynh và học sinh.

Chuỗi cung ứng sách giáo khoa đang vận hành trên “lý thuyết độc quyền” lỗi thời
Về hình thức, cung ứng sách giáo khoa được giao gần như trọn gói cho một nhà xuất bản thuộc sở hữu 100% vốn Nhà nước, chịu ràng buộc chặt chẽ của luật quản lý vốn. Điều này khiến đơn vị không được phép in vượt xa đơn đặt hàng vì nguy cơ tồn kho sẽ làm thất thoát vốn Nhà nước. Nói cách khác, hệ thống đang yêu cầu một doanh nghiệp vận hành như cơ quan hành chính: phải bảo toàn vốn, nhưng lại phải gánh trách nhiệm xã hội ở mức tuyệt đối. Trong bối cảnh ấy, quan niệm ở một số địa phương rằng sách giáo khoa luôn phải có sẵn “hàng triệu bản trong kho, muốn lấy lúc nào cũng có” là xa rời thực tế sản xuất. Độc quyền xuất bản giáo dục trong điều kiện cơ chế, pháp lý như hiện nay tạo ra một nút thắt kép: rủi ro cao, linh hoạt thấp.
Dư luận vì thế không ngạc nhiên khi nhiều tiếng nói yêu cầu xóa bỏ độc quyền xuất bản giáo dục. Chính lãnh đạo Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cũng khẳng định họ không mong muốn độc quyền sách giáo khoa. Ông nêu rõ: nếu Nhà nước có cơ chế tháo gỡ pháp lý để chia sẻ bản quyền cho các nhà xuất bản khác cùng làm, đơn vị này “sẵn sàng giao ngay”. Khi cả nhà cung ứng chủ chốt cũng muốn chia sẻ sân chơi, vấn đề không còn nằm ở ý chí doanh nghiệp, mà ở chỗ khung chính sách chậm thay đổi. Cố giữ độc quyền trong khi thị trường, nhu cầu, công nghệ và mô hình quản trị đã đổi khác chẳng khác nào buộc một hệ thống analog gánh một nhiệm vụ số hóa.

Phụ huynh trả giá cho trục trặc cung ứng, Bộ Giáo dục phải thay đổi vai trò
Trong mọi sự cố cung ứng sách giáo khoa, người chịu tác động trực tiếp luôn là học sinh và phụ huynh. Đầu năm học, nhiều phụ huynh phải chạy khắp nơi “săn” sách giáo khoa sát ngày khai giảng, thậm chí sau ngày khai giảng, khiến hệ thống bán lẻ quá tải cục bộ. Học sinh thì học bằng sách mượn, sách cũ, hoặc chụp lại sách của bạn. Bộ Giáo dục và Đào tạo thẳng thắn nhận trách nhiệm khi để xảy ra tình trạng thiếu sách cục bộ, đồng thời nhìn nhận công tác dự báo, tổng hợp và phân tích nhu cầu chưa theo kịp thực tế; việc đánh giá năng lực sản xuất, quản trị và mạng lưới cung ứng của nhà xuất bản chưa đầy đủ, biện pháp điều phối chưa đủ nhanh và linh hoạt. Trách nhiệm đã được nêu tên, nhưng phụ huynh cần hơn là những lời nhận lỗi.
Trước mắt, Bộ yêu cầu điều chuyển sách từ nơi thừa sang nơi thiếu, đồng thời chỉ đạo tiếp tục in bổ sung theo nhu cầu đã xác nhận. Nhà xuất bản đã huy động tối đa công suất các nhà in, nâng lượng cung ứng lên gần 240 triệu bản giữa tháng 9/2026, mở miễn phí hệ thống sách giáo khoa điện tử để giáo viên, học sinh sử dụng tạm và cam kết hoàn tất cấp bổ sung trước ngày 30/9/2026. Đây là giải pháp chữa cháy cần thiết, nhưng không thể lặp lại mỗi năm. Nếu Bộ Giáo dục vẫn coi mình chủ yếu là cơ quan quản lý chương trình mà chưa thực sự giữ vai trò “nhạc trưởng” trong cung ứng sách giáo khoa – một mặt hàng thiết yếu đặc thù – thì những mùa thiếu sách mới sẽ còn tiếp diễn.

Giải pháp dài hạn: Xóa độc quyền, nâng cấp dự báo và coi sách giáo khoa là dịch vụ công
Muốn chấm dứt vòng lặp thiếu sách giáo khoa 2026 trong những năm tới, không thể chỉ dừng ở khâu rút kinh nghiệm. Thứ nhất, cần xây dựng lại hệ thống dự báo nhu cầu sách dựa trên dữ liệu dân số học đường theo thời gian thực, gắn trách nhiệm rõ ràng cho từng cấp quản lý. Việc các địa phương để nhu cầu phát sinh tăng tới gần 69,9 triệu bản – tương đương 39,7% so với dự báo ban đầu – là mức sai số không thể chấp nhận trong quản trị công. Thứ hai, phải tái thiết quy trình đặt hàng, cắt bỏ những “nút thắt giấy tờ” khiến thủ tục mua sắm hoàn thành quá muộn, buộc phụ huynh phải tự đi mua lẻ rồi mới phát sinh đơn tập trung. Khi quy trình quản lý sai, không có mô hình cung ứng nào đủ tốt để cứu vãn.
Quan trọng hơn, Bộ Giáo dục đã nêu định hướng xác định sách giáo khoa là sản phẩm, dịch vụ công, mặt hàng thiết yếu đặc thù. Định nghĩa này phải đi kèm thay đổi thể chế: xây dựng cơ chế dự phòng quốc gia cho sách giáo khoa; cho phép nhiều nhà xuất bản đủ năng lực cùng tham gia xuất bản, phát hành; chia sẻ bản quyền để xóa độc quyền xuất bản giáo dục một cách có kiểm soát. Khi đó, rủi ro không còn dồn hết vào một doanh nghiệp, còn Nhà nước có thể tập trung vào vai trò điều tiết, giám sát chất lượng và bảo đảm công bằng tiếp cận. Kết luận quan trọng nhất sau “mùa thiếu sách” này là: hoặc chúng ta cải cách cấu trúc cung ứng, hoặc mỗi mùa khai giảng sẽ lại trở thành bài kiểm tra đau đớn của cả hệ thống giáo dục.







