Tuyến đường sắt chiến lược và thông điệp chính trị phía sau
Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng là công trình trọng điểm quốc gia, được Quốc hội xem xét điều chỉnh chủ trương đầu tư, nhằm hình thành một trục hạ tầng chiến lược Việt Nam kết nối biên giới Trung Quốc với trung tâm chính trị và các cảng biển phía Đông, đồng thời tác động sâu rộng đến cấu trúc phát triển vùng trung du và miền núi phía Bắc. Trong kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội đã nghe Tờ trình, Báo cáo thẩm tra về việc điều chỉnh chủ trương đầu tư và thảo luận tại tổ đối với tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Điều này cho thấy dự án không chỉ là một hạng mục giao thông, mà là công cụ thực thi chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước tại vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. Theo ý kiến của đại biểu Sùng A Lềnh, tuyến đường sắt này được xem là dự án hạ tầng chiến lược, góp phần hình thành hành lang kinh tế Đông - Tây, tăng cường kết nối giữa các vùng kinh tế trong nước với khu vực phía Nam Trung Quốc và các nước ASEAN. Nói cách khác, kết nối biên giới Trung Quốc không chỉ là chuyện vận tải mà là câu chuyện vị thế và hội nhập vùng.

Điều chỉnh quy hoạch: tầm nhìn dài hạn nhưng không thể mơ hồ về vốn
Việc điều chỉnh chủ trương đầu tư đường sắt Lào Cai Hải Phòng phản ánh một tư duy đáng khen: chấp nhận sửa để phù hợp chiến lược, quy hoạch đã được phê duyệt, thay vì cố bám vào phương án cũ. Dự án được chia thành 9 dự án thành phần, bổ sung 8,4 km đoạn tuyến Yên Viên - Gia Lâm và di chuyển ga đầu mối hành khách phía Bắc từ Yên Viên về Gia Lâm để ăn khớp với Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội với tầm nhìn 100 năm. Sự điều chỉnh này không chỉ để đẹp trên giấy. Việc bổ sung giúp kết nối hiệu quả đường sắt quốc gia với mạng lưới đường sắt đô thị, tạo thuận lợi cho hành khách và mở ra cơ hội tái thiết đô thị khu vực ga Gia Lâm theo mô hình TOD. Đồng thời, đoạn Bắc Hồng – Nam Hải Phòng được nâng quy mô từ đường đơn lên đường đôi ngay từ đầu, vì dự báo cho thấy đến năm 2045 tuyến đôi sẽ phải được đưa vào khai thác, năm 2041 phải nâng cấp và năm 2038 đã phải chuẩn bị thủ tục. Tuy nhiên, khi Quốc hội yêu cầu Chính phủ tiếp tục rà soát tổng mức đầu tư, nguồn vốn, nhu cầu đất, phương án kỹ thuật để bảo đảm tính khả thi và hạn chế điều chỉnh thêm, đó là lời nhắc rõ ràng: hạ tầng chiến lược Việt Nam chỉ có ý nghĩa nếu đi kèm một bài toán huy động vốn minh bạch, nhất quán, không để các con số thay đổi theo từng kỳ họp.

Biên giới và hành lang kinh tế Đông – Tây: lợi thế không tự nhiên đến
Tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng không che giấu tham vọng: trở thành xương sống vận tải của hành lang kinh tế Đông – Tây, nối vùng biên với các cực tăng trưởng đồng bằng và cảng biển. Trong bối cảnh cạnh tranh khu vực, kết nối biên giới Trung Quốc bằng hạ tầng đường sắt hiện đại là điều Việt Nam buộc phải làm, nếu không muốn bị bỏ lại sau các tuyến vận tải xuyên biên giới khác. Theo đánh giá của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai, dự án có ý nghĩa chiến lược trong việc cụ thể hóa chủ trương về phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, đồng thời tăng cường kết nối với khu vực phía Nam Trung Quốc và ASEAN. Điều chỉnh một số hạng mục để đồng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm an toàn vận hành và nâng cao hiệu quả khai thác tuyến đường sắt được coi là cần thiết, trong đó có việc bổ sung các nhánh kết nối với hệ thống đường sắt hiện hữu. Nhưng lợi thế vị trí không tự biến thành lợi ích nếu khâu tổ chức thực hiện yếu. Khi Ủy ban Kinh tế và Tài chính yêu cầu Chính phủ chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác, trung thực của hồ sơ, đó là lời cảnh báo: hạ tầng chiến lược mà sai ngay từ số liệu thì mọi tính toán về hiệu quả kết nối sẽ chỉ là giả định đẹp.

Tác động tới đồng bào dân tộc thiểu số: mất đất không được phép đồng nghĩa mất tương lai
Điểm nhạy cảm nhất của dự án lại nằm không phải ở ga Gia Lâm hay đoạn đường đôi, mà ở những bản làng nơi đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống. Tại hai tỉnh Phú Thọ và Lào Cai, đa số hộ dân bị ảnh hưởng bởi tuyến đường sắt là người dân tộc thiểu số. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật giải phóng mặt bằng, mà là bài kiểm tra về cách chúng ta đối xử với những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất khi triển khai đầu tư công trình quốc gia. Theo hồ sơ Chính phủ trình, số người phải tái định cư tăng từ 19.136 lên khoảng 25.544 người, tức tăng 6.408 người so với Nghị quyết 187. Quy mô đó tạo ra tác động xã hội sâu rộng, ảnh hưởng trực tiếp và mạnh nhất đến đồng bào dân tộc thiểu số ở Phú Thọ và Lào Cai. Đại biểu Ma Thị Thúy đã thẳng thắn chỉ ra hồ sơ hiện chưa làm rõ số hộ, số người dân tộc bị ảnh hưởng, diện tích đất ở, đất sản xuất, đất lâm nghiệp bị thu hồi, số cộng đồng phải di chuyển, cũng như tác động đến sinh kế, không gian văn hóa, tín ngưỡng và sự gắn kết cộng đồng. Việc tiết giảm 636 tỉ đồng so với tờ trình trước đây phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người bị thu hồi đất. Nếu tiết kiệm ngân sách bằng cách cắt giảm bồi thường và hỗ trợ, chúng ta sẽ đánh đổi hạ tầng chiến lược bằng những vùng tái định cư nghèo nàn, đứt gãy văn hóa, và đó là cái giá không thể chấp nhận.

Bài toán tái định cư và trách nhiệm chính trị của Quốc hội
Từ những con số tái định cư khổng lồ, câu hỏi đặt ra là: hệ thống chính trị có chấp nhận biến các bản làng miền núi thành "bãi thí nghiệm" của phát triển hạ tầng hay không. Theo phản ánh của đại biểu, tại nhiều nơi người dân bị thu hồi đất song khu tái định cư chưa hoàn thiện, thậm chí phải sống tạm bợ trong thời gian dài, đời sống không ổn định và con em gặp khó khăn trong học tập. Đề xuất hợp lý nhất được đưa ra là Chính phủ phải chỉ đạo các địa phương bắt buộc hoàn thành khu tái định cư trước khi thu hồi đất. Đồng thời, công tác bồi thường cần đi cùng các chương trình phục hồi sinh kế, đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ trợ tín dụng và theo dõi sát sao đời sống người dân sau tái định cư. Nếu không, tác động dân tộc thiểu số sẽ là một vết thương kéo dài, phủ bóng lên mọi báo cáo về hiệu quả đầu tư. Trong phiên thảo luận tại tổ, các đại biểu được đề nghị tập trung đánh giá phạm vi, quy mô đầu tư, nguồn vốn, khả năng cân đối vốn, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tiến độ và hiệu quả của dự án. Điều chỉnh chủ trương đầu tư được kỳ vọng sẽ tạo cơ sở pháp lý để triển khai đúng tiến độ, phấn đấu hoàn thành vào năm 2030 theo chỉ đạo của Bộ Chính trị. Nhưng hơn cả tiến độ, Quốc hội đang đứng trước một bài sát hạch về bản lĩnh: dám đặt quyền lợi người dân lên cùng hàng với tham vọng hạ tầng, thay vì đẩy họ xuống hàng "chi phí cần giảm".







