Từ “khai thác” đến “quản trị” biển: bước ngoặt tư duy phát triển
Kinh tế biển xanh là cách phát triển các ngành kinh tế dựa vào biển theo hướng hiện đại, thông minh, sử dụng hiệu quả tài nguyên nhưng hạn chế tác động tiêu cực lên môi trường và hệ sinh thái, đặt mục tiêu tăng trưởng dài hạn gắn với phát triển bền vững biển và an sinh của cộng đồng ven biển. Nghị quyết 20-NQ/TW đã nâng tầm vấn đề khi chuyển trọng tâm từ “phát triển kinh tế biển” sang xây dựng quốc gia biển mạnh với biển được coi là không gian phát triển chiến lược và bộ phận cấu thành sức mạnh tổng hợp của đất nước. Chính bước ngoặt tư duy này buộc quản trị biển hiện đại phải trở thành trục chính: chuyển từ quản lý theo từng ngành sang quản trị tổng hợp dựa trên quy hoạch không gian biển, liên kết vùng và ngành để tránh xung đột, chồng lấn lợi ích. Nếu tiếp tục tư duy khai thác tuyến tính, Việt Nam khó cạnh tranh trong khu vực và sẽ trả giá bằng suy thoái hệ sinh thái.

Các địa phương ven biển: không thể mạnh nếu đi theo một khuôn mẫu
Điểm mạnh của chiến lược mới là cho phép các tỉnh, thành ven biển chọn con đường phát triển riêng thay vì sao chép mô hình lẫn nhau. Bám sát Nghị quyết 20-NQ/TW, các địa phương đang xác định những bước đi chiến lược: Đà Nẵng tập trung vào hạ tầng logistics, Khánh Hòa đẩy nuôi biển lên tầm công nghệ cao, Hà Tĩnh dồn lực để trở thành trung tâm năng lượng xanh. Đà Nẵng tận dụng lợi thế nằm trên các trục kết nối Bắc – Nam, Đông – Tây, là cửa ngõ phía Đông của Hành lang kinh tế Đông – Tây, hình thành mạng lưới logistics đa phương thức và xây dựng hệ sinh thái logistics tích hợp với cảng Liên Chiểu và các trung tâm logistics làm lõi kết nối dòng hàng. Khánh Hòa và Hà Tĩnh nếu không đi đến cùng định hướng nuôi biển công nghệ cao và năng lượng xanh, sẽ chỉ thêm một vòng xoáy khai thác tài nguyên cũ kỹ mà không tạo ra lợi thế cạnh tranh thực chất.

Quản trị biển hiện đại: khoa học và đổi mới sáng tạo là “xương sống”
Muốn kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng, Việt Nam không thể chỉ trông vào khoáng sản, thủy sản hay đất ven biển mà phải coi tri thức và công nghệ là nguồn lực chính. Nghị quyết 20 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu, đưa giá trị của biển dịch chuyển từ khai thác tài nguyên sang dữ liệu, tri thức và năng lực quản trị. Đây là tinh thần quản trị biển hiện đại: các quyết định phát triển phải dựa trên mô hình, bản đồ không gian biển, hệ thống thông tin và chỉ số kinh tế biển cấp tỉnh (PBEI) để đo lường, điều chỉnh chính sách. Quan điểm kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần, gắn phát triển với bảo vệ hệ sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu, quốc phòng, an ninh, sẽ là phép thử xem chúng ta có dám nói không với những dự án ngắn hạn nhưng phá vỡ nền tảng phát triển lâu dài.

Quy hoạch không gian biển: công cụ cân bằng tăng trưởng và hệ sinh thái
Điểm đáng chú ý là Việt Nam không đi một mình trên con đường xây dựng kinh tế biển xanh, mà chủ động kết nối với các đối tác quốc tế để nâng chất quản trị. Giai đoạn 2022 – 2026, UNDP và Na Uy đã hỗ trợ xây dựng Quy hoạch không gian biển quốc gia và Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ. Bước sang giai đoạn 2026 – 2029, hợp tác tiếp tục được đẩy mạnh, tập trung thực hiện quy hoạch không gian biển, phối hợp liên ngành, thúc đẩy vùng biển sẵn sàng đầu tư và huy động nguồn lực tài chính xanh. Theo Phó Cục trưởng Cục Biển đảo Việt Nam Nguyễn Việt Dũng, “đây là bước chuyển từ tư duy ‘khai thác biển’ sang ‘quản trị biển hiện đại’, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chính”. Nếu quy hoạch được tôn trọng, các dự án phải hài hòa lợi ích phát triển với yêu cầu bảo vệ môi trường và hệ sinh thái, kinh tế biển xanh sẽ có nền tảng vững để đi xa.
Kinh tế biển xanh như một phép thử năng lực cạnh tranh khu vực
Tham vọng trở thành quốc gia biển mạnh không chỉ là khẩu hiệu mà đang dần được cụ thể hóa bằng những công cụ quản trị và sự khác biệt chiến lược ở cấp địa phương. Cuộc trao đổi chính thức giữa cơ quan quản lý biển và báo chí cho thấy lãnh đạo đã nhận diện rõ yêu cầu huy động nguồn lực lớn, phát triển kinh tế biển xanh, thông minh và bền vững trong khuôn khổ quốc gia biển mạnh. Tuy vậy, câu hỏi thực sự là liệu Việt Nam có biến được các khung quy hoạch, chỉ số PBEI và hợp tác quốc tế thành năng lực cạnh tranh so với các nền kinh tế biển khác trong khu vực. Nếu các tỉnh tiếp tục mạnh ai nấy làm, ưu đãi ngắn hạn và lỏng lẻo về kiểm soát môi trường, mọi lợi thế về khoa học, công nghệ sẽ bị triệt tiêu. Ngược lại, nếu giữ vững kỷ luật quy hoạch, tôn trọng quản trị biển hiện đại và kiên trì kinh tế biển xanh, Việt Nam có cơ hội bước vào nhóm những nền kinh tế biển có sức hút đầu tư dài hạn trong ASEAN.






