Không thiếu khoáng sản, thiếu một quy trình vận hành thông suốt
Điểm nghẽn khoáng sản Quảng Ngãi là tình trạng nguồn tài nguyên dồi dào nhưng bị trói trong các quy trình cấp phép khai thác, dự báo nguồn cung vật liệu và phối hợp quản lý khoáng sản thiếu nhịp nhàng, khiến các dự án hạ tầng phải chạy đua với thủ tục hành chính thay vì chạy đua tiến độ thi công. Theo quy hoạch, Quảng Ngãi có 730 mỏ vật liệu xây dựng thông thường với tài nguyên dự báo khoảng 700 triệu m³, trong khi nhu cầu đến năm 2030 chỉ hơn 60 triệu m³. Nói cách khác, “cơn khát” vật liệu là hệ quả của cách chuẩn bị nguồn cung và điều phối mỏ, không phải của sự thiếu hụt trữ lượng. Việc nhiều công trình giao thông, thủy lợi, khu tái định cư phải thi công cầm chừng vì thiếu đất đắp, cát và đá cho thấy nút thắt nằm ở thể chế và tổ chức thực thi, chứ không nằm dưới lòng đất.

Đấu giá 58 mỏ: bước đi mạnh nhưng chưa đủ để giải cơn khát vật liệu
Trong bối cảnh nhu cầu vật liệu tăng mạnh do hàng loạt dự án hạ tầng lớn triển khai cùng lúc và nhu cầu từ các địa phương lân cận, tỉnh đã chọn con đường thị trường hóa khoáng sản Quảng Ngãi thông qua đấu giá quyền khai thác. Sở Nông nghiệp và Môi trường đang tiếp nhận hồ sơ của các tổ chức đấu giá để lựa chọn đơn vị tổ chức đấu giá quyền khai thác đối với 58 mỏ vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn. Đợt đấu giá này bao gồm 19 mỏ cát, 32 mỏ đất san lấp, 6 mỏ đá và 1 mỏ đất sét làm gạch ngói, phân bố tại 34 xã, phường, với giá khởi điểm của mỏ cát bằng 5% giá trị khối lượng dự tính và tiền đặt trước lên đến 50% mỗi điểm mỏ. Đây là bước đi cần thiết để bổ sung nguồn cung vật liệu, bình ổn giá cả và đáp ứng nhu cầu thi công các công trình trọng điểm, nhưng nếu quy trình cấp phép khai thác vẫn chậm và công tác dự báo nhu cầu vật liệu vẫn lỏng lẻo thì đấu giá chỉ mới giải quyết phần ngọn của vấn đề nguồn cung vật liệu.

Thủ tục cấp phép, môi trường và hoàn trả đất: tầng tầng lớp lớp điểm nghẽn
Điểm nghẽn lớn nhất trong quản lý khoáng sản hiện nay là chuỗi thủ tục kéo dài từ lúc đưa khu vực mỏ vào quy hoạch đến khi doanh nghiệp được cấp phép khai thác. Thời gian này thường mất khoảng một năm, thậm chí lâu hơn nếu phát sinh vướng mắc về đất đai, môi trường hoặc đấu giá quyền khai thác. Một mỏ phải đi qua nhiều bước: đấu giá quyền khai thác, thăm dò, phê duyệt trữ lượng, thủ tục đầu tư, đất đai, đánh giá tác động môi trường, rồi mới đến cấp phép khai thác. Chỉ cần một khâu bị chậm, toàn bộ quá trình bị đình trệ. Nhiều mỏ đã bị thu hồi để rà soát từ nhiệm kỳ trước nhưng gần bốn năm vẫn chưa khai thác trở lại vì vướng cách áp dụng quy định cũ đối với hồ sơ đã đáp ứng quy định mới. Đây là điểm bộc lộ xung đột giữa mục tiêu bảo vệ môi trường, hoàn trả đất sau khai thác với nhu cầu tiến độ dự án. Nhưng thay vì xem bảo vệ môi trường là lực cản, bài toán cần đặt lại là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, thống nhất cách áp dụng luật và tích hợp yêu cầu phục hồi môi trường ngay trong thiết kế mỏ, để doanh nghiệp có thể khai thác hợp pháp mà vẫn đáp ứng yêu cầu bảo tồn.

Dự báo thiếu, điều phối yếu: nguồn cung luôn “chậm một nhịp”
Theo người đứng đầu ngành xây dựng tỉnh, Quảng Ngãi không thiếu vật liệu xây dựng, điều còn thiếu là sự chủ động trong chuẩn bị nguồn cung. Các dự án lớn như Tỉnh lộ 676 hay tuyến Hoàng Sa – Dốc Sỏi là minh chứng: nhu cầu đất san lấp và đất đắp lên đến hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu m³ nhưng khu vực có nhu cầu lớn lại chưa có mỏ đủ điều kiện khai thác, trong khi mỏ còn nguồn vật liệu lại nằm quá xa công trình, làm chi phí vận chuyển tăng và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công bị ảnh hưởng. Công tác khảo sát, dự báo nhu cầu vật liệu của nhiều chủ đầu tư chưa sát thực tế, khối lượng sử dụng, thời điểm cần vật liệu và phương án dự phòng không được tính kỹ ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Hệ quả là nguồn cung vật liệu luôn “chậm một nhịp” so với nhu cầu của dự án. Quan điểm cho rằng chỉ cần tăng số lượng mỏ là giải quyết được vấn đề là cách nhìn ngắn hạn; thứ cần nâng cấp là năng lực dự báo, cơ chế điều phối cung – cầu và chất lượng quy hoạch gắn với thực tế triển khai.
Từ xử lý tình huống sang quản trị chủ động khoáng sản
Điểm sáng của Quảng Ngãi là nhận thức đã dịch chuyển từ ứng phó bị động sang chuẩn bị nguồn cung chủ động. UBND tỉnh yêu cầu bảo đảm nguồn vật liệu phải được tính ngay trong giai đoạn lập và thẩm định dự án, thay vì chờ đến khi khởi công mới đi tìm mỏ. Theo kế hoạch, tỉnh sẽ tổ chức đấu giá 57 khu vực mỏ trong thời gian tới, đồng thời rà soát các mỏ đã quy hoạch nhưng chưa khai thác để tháo gỡ thủ tục, điều chỉnh công suất khai thác phù hợp nhu cầu, vẫn đảm bảo môi trường và an toàn lao động. Trên phương diện quản lý khoáng sản, việc đưa mỏ ra đấu giá được đánh giá là cách đổi mới theo cơ chế thị trường, hướng đến khai thác, sử dụng khoáng sản tiết kiệm, hiệu quả và tăng nguồn thu ngân sách. HĐND yêu cầu xác định rõ trách nhiệm từng sở, ngành trong xử lý hồ sơ, thường xuyên rà soát tiến độ thủ tục từng mỏ và kịp thời tháo gỡ khó khăn. Nếu những cam kết này đi vào thực thi thực chất, Quảng Ngãi có cơ hội biến lợi thế khoáng sản thành động lực phát triển, thay vì để tài nguyên bị chôn vùi trong hồ sơ và quy trình. Kết luận cuối cùng là: bài toán không phải có thêm bao nhiêu mỏ mới, mà là xây dựng một hệ sinh thái quản trị khoáng sản đồng bộ – nơi quy hoạch, đấu giá, cấp phép, môi trường và dự báo nguồn cung vận hành như một chuỗi liên kết, thay vì những mảnh ghép rời rạc.






