Lợi thế độc đáo: vì sao Tây Ninh có thể thành cửa ngõ logistics ASEAN?
Trung tâm logistics Tây Ninh là định hướng biến tỉnh biên giới này thành điểm tập kết, phân phối và trung chuyển hàng hóa công nghiệp, nông nghiệp, cửa khẩu quốc tế gắn với hệ thống cảng và đường thủy, giúp kết nối ASEAN hàng hóa hiệu quả hơn, giảm chi phí vận chuyển và tăng giá trị dịch vụ logistics Đông Nam Á. Tây Ninh sở hữu lợi thế hiếm có khi trong cùng một không gian phát triển hội tụ vùng sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, cửa khẩu quốc tế, hệ thống cảng, đường thủy và các hành lang giao thông liên vùng. Không nhiều địa phương có đồng thời nguồn hàng lớn lẫn nhiều cửa ngõ xuất nhập khẩu như vậy. Điều đó đặt Tây Ninh vào vị thế phải nghĩ lớn: logistics không chỉ phục vụ nội tỉnh mà hướng tới vận chuyển hàng hóa ASEAN qua các cửa khẩu Mộc Bài, Xa Mát, Bình Hiệp và các cụm cảng kết nối Thành phố Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long.
Nguồn hàng tăng nhanh nhưng giá trị logistics giữ lại còn mỏng
Điểm mạnh của Tây Ninh nằm ở quy mô nguồn hàng đang phình to rất nhanh: 100 khu công nghiệp với hơn 31.300 ha được quy hoạch, 51 khu đã thành lập và 108 cụm công nghiệp, trong đó 24 cụm đang hoạt động với 521 dự án. Bình quân dòng hàng công nghiệp, nông sản và xuất nhập khẩu tạo ra nhu cầu khổng lồ cho kho bãi, trung tâm phân phối, logistics lạnh và vận tải đa phương thức. "Năm 2025, Tây Ninh có khoảng 630 doanh nghiệp logistics, doanh thu vận tải hàng hóa, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt khoảng 8.827 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng logistics 13,81%". Tuy nhiên, tỷ trọng giá trị tăng thêm của logistics trong GRDP mới nhích từ 1,13% lên 1,16%. Điều này cho thấy Tây Ninh đang chuyển hàng nhiều nhưng giữ lại giá trị ít: chuỗi dịch vụ chưa sâu, doanh nghiệp logistics phần lớn nhỏ, thiếu năng lực tài chính, quản trị, công nghệ và nhân lực chất lượng cao.

Mở không gian logistics: từ ICD, cảng, cửa khẩu đến hành lang liên vùng
Muốn trở thành trung tâm logistics Tây Ninh không thể phát triển trong phạm vi địa giới hành chính mà phải tự đặt mình trong mạng lưới Thành phố Hồ Chí Minh – Đông Nam Bộ – Đồng bằng sông Cửu Long – Campuchia – ASEAN. Cốt lõi chiến lược là mở rộng không gian logistics: kết nối khu công nghiệp, vùng nguyên liệu, ICD, cảng cửa khẩu Tây Ninh với cảng biển và đường thủy nội địa để tổ chức lại dòng hàng ở quy mô khu vực. Cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Mộc Bài, Bến Lức – Long Thành, Vành đai 3, Vành đai 4 cùng hệ thống quốc lộ, đường tỉnh và đường thủy đang tạo các hành lang vận chuyển hàng hóa ASEAN quan trọng. Kết nối cảng nội địa với đường bộ và đường thủy được xem là giải pháp thiết thực để đa dạng phương thức vận chuyển, giảm áp lực cho đường bộ và nhất là giảm chi phí logistics vốn phụ thuộc vào mức độ liên thông của cả chuỗi. Nếu không gắn kết, thời gian lưu kho, bốc xếp, trung chuyển sẽ đội lên, bào mòn lợi thế cạnh tranh.
Logistics lạnh, nông nghiệp và dịch vụ 3PL: chìa khóa chạm túi tiền người dân
Tây Ninh không chỉ vận chuyển tôn thép, hàng may mặc mà còn phải xử lý nông sản, trái cây, thủy sản và thực phẩm – những mặt hàng đòi hỏi khắt khe về thời gian và điều kiện bảo quản. Nếu không có logistics lạnh, tổn thất sau thu hoạch sẽ tiếp tục cao, giá bán đến tay người tiêu dùng tăng, còn nông dân và doanh nghiệp chế biến chịu thiệt. Việc phát triển các trung tâm logistics tích hợp kho lạnh, kho mát, cấp đông, phân loại, đóng gói, vận chuyển và dịch vụ giá trị gia tăng sẽ kết nối vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, hạn chế tổn thất và nâng giá trị hàng hóa. Điều này tác động trực tiếp đến túi tiền người dân: kết nối tốt giúp giảm chi phí vận chuyển, giảm thời gian trung chuyển, từ đó giá sản phẩm ổn định hơn. Muốn giữ lại nhiều giá trị trong chuỗi logistics Đông Nam Á, Tây Ninh phải hình thành doanh nghiệp đủ sức cung cấp dịch vụ 3PL, 4PL, logistics lạnh, nông nghiệp và cửa khẩu, đồng thời kết nối dữ liệu kho hàng, phương tiện, cửa khẩu, cảng và nguồn hàng, thúc đẩy logistics xanh.
Mục tiêu đến 2035–2050 và bài kiểm tra năng lực cạnh tranh khu vực
Tây Ninh đang đặt ra các bước đi dài hơi để khẳng định vị thế trung tâm logistics khu vực. Theo định hướng, đến năm 2035 tỉnh hình thành 15 trung tâm logistics với tổng diện tích quy hoạch khoảng 1.224 ha, xây dựng một trung tâm hiện đại đạt chuẩn quốc tế và đến năm 2050 có hai trung tâm như vậy; tỷ trọng giá trị tăng thêm của logistics phấn đấu lên 5–7% GRDP, tốc độ tăng trưởng bình quân 12–15%/năm và khoảng 80% doanh nghiệp logistics ứng dụng giải pháp số. Song song, một đề án đang được xây dựng để nghiên cứu thực trạng, cơ chế quản lý và giải pháp phát triển dịch vụ logistics trên địa bàn làm cơ sở hoạch định chính sách, thu hút đầu tư. Các mục tiêu đang được nghiên cứu còn hướng tới việc đến năm 2030 hình thành hai trung tâm logistics tại Mộc Bài và Cảng Quốc tế Long An, phát triển ICD, tăng cường kết nối đa phương thức, nâng năng lực cửa khẩu và cảng, logistics đóng góp 8–10% GRDP, giảm chi phí logistics xuống khoảng 14–16% và 30% doanh nghiệp chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.






