Từ quyết định 1901 đến yêu cầu chuyển trạng thái phát triển
Đại học Hàng hải Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi chiến lược trở thành trường trọng điểm quốc gia về đào tạo hàng hải và nghiên cứu phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển, với yêu cầu phải nâng cấp toàn diện từ quản trị, chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên đến năng lực nghiên cứu khoa học hàng hải, trong bối cảnh hội nhập sâu với ngành hàng hải quốc tế và cạnh tranh nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt. Nút bấm khởi động cho giai đoạn này là Quyết định 1901/QĐ-TTg phê duyệt đề án xây dựng trường trọng điểm quốc gia về đào tạo, nghiên cứu kinh tế biển đến 2030, tầm nhìn 2045. Vì vậy, phát biểu sáng 22/9 tại Lễ giao nhiệm vụ năm học 2026–2027, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Minh Hà không đơn thuần chúc mừng năm học mới, mà đặt ra yêu cầu trường phải “tạo chuyển biến rõ nét” trong triển khai đề án này. Năm học 2026–2027 vì thế được xác định là năm củng cố nền tảng và tạo bước chuyển mạnh mẽ để trường thực hiện mục tiêu trở thành trường trọng điểm quốc gia.

Bốn nhóm yêu cầu: Áp lực cần thiết để đạt tiêu chuẩn quốc tế
Điều đáng chú ý là lãnh đạo Bộ Xây dựng không nói chung chung, mà nêu rõ bốn nhóm nội dung mà đại học hàng hải Việt Nam phải tập trung nếu muốn xứng tầm trường trọng điểm quốc gia. Trọng tâm đầu tiên là đổi mới quản trị gắn với triển khai hiệu quả Quyết định 1901: từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển, gắn tự chủ với trách nhiệm giải trình, kỷ luật tài chính và đo lường đầu ra cụ thể. Đây là cách tiếp cận đúng, vì không một chuẩn quốc tế nào chấp nhận mô hình đại học chỉ chăm lo quy trình mà bỏ qua kết quả. Thứ hai, nhà trường phải siết lại quản lý các dự án cơ sở 2 và Trung tâm giáo dục quốc phòng, bảo đảm tiến độ, chất lượng, chi phí và hiệu quả khai thác. Theo lời Thứ trưởng Phạm Minh Hà, “nhà trường phải chuyển từ định hướng sang kết quả cụ thể, từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển và đo lường đầu ra” – một câu nói cho thấy thước đo duy nhất của trạng thái trọng điểm sẽ là năng lực tạo ra giá trị thực sự cho kinh tế biển, không phải danh hiệu.

Đội ngũ giảng viên trình độ cao: Mệnh lệnh chứ không phải khẩu hiệu
Trong bốn yêu cầu, phát triển đội ngũ giảng viên trình độ cao rõ ràng là trụ cột, bởi không có trường trọng điểm quốc gia nào xây trên nền giảng viên trung bình. Hiện trường có gần 1.000 cán bộ, giảng viên, nhân viên, với 54 giáo sư, phó giáo sư và 251 tiến sĩ, cùng khoảng 350 thuyền trưởng, máy trưởng hạng Nhất. Đây là lợi thế hiếm có trong đào tạo hàng hải, nhưng để đạt tiêu chuẩn quốc tế, con số không đủ, mà phải có sức sáng tạo và hội nhập khoa học. Bộ Xây dựng yêu cầu trường ưu tiên thu hút giảng viên trình độ cao, chuyên gia thực tiễn, đồng thời tạo điều kiện để giảng viên trẻ được đào tạo, tham gia mạng lưới nghiên cứu quốc tế. Tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” mà Hiệu trưởng PGS.TS Phạm Xuân Dương nhấn mạnh cho đội ngũ cán bộ, giảng viên trong năm học mới chỉ có thể trở thành thực tế nếu song hành với chính sách nhân sự đủ mạnh và cơ chế đánh giá dựa trên sản phẩm khoa học, chuyển giao công nghệ.

Chương trình đào tạo và nghiên cứu khoa học hàng hải: Cánh tay nối dài của chiến lược quốc gia biển mạnh
Điểm khác biệt của đại học hàng hải Việt Nam là trường không chỉ đào tạo hàng hải, mà còn được giao nhiệm vụ trực tiếp phục vụ chiến lược xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh thông qua gắn đào tạo với kinh tế biển. Vì thế, yêu cầu chương trình đào tạo phải bám sát nhu cầu kinh tế biển và thị trường lao động, tăng thực hành, thực tập tại doanh nghiệp, cập nhật chuyển đổi xanh, tự động hóa, dữ liệu và AI không phải là “đổi mới cho đẹp”, mà là trách nhiệm với nền kinh tế. Việc trường ngày càng thu hút sinh viên quốc tế đến từ Na Uy, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ma-rốc, Nam Phi, Vanuatu, Ấn Độ… cho thấy sức hút bước đầu của chương trình đào tạo và môi trường nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học hàng hải đã ghi nhận hơn 200 đề tài các cấp, 458 bài báo, trong đó 175 bài thuộc hệ ISI/Scopus. Tuy vậy, lãnh đạo Bộ Xây dựng vẫn yêu cầu nghiên cứu phải hướng vào các bài toán của hàng hải và kinh tế biển, khai thác hiệu quả nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, hệ thống mô phỏng và tàu huấn luyện VMU Việt – Hàn, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số phục vụ các vấn đề thực tiễn của ngành.

Từ trường xuất sắc toàn cầu đến trường trọng điểm quốc gia: Không được phép tự hài lòng
Nhìn lại vài năm gần đây, đại học hàng hải Việt Nam có nhiều thành tích đáng nể: 20 chương trình đào tạo được kiểm định, trong đó 4 chương trình đạt chuẩn AUN-QA; hơn 27.000 sinh viên, học viên ở 55 chương trình đại học, 19 chương trình thạc sĩ và 9 chương trình tiến sĩ. Trường được tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc, Cờ thi đua, được AMET và Quỹ Ramachandran (Ấn Độ) bình chọn là trường đại học hàng hải xuất sắc nhất toàn cầu và được IAMU bầu vào Hội đồng điều hành quốc tế nhiệm kỳ 2027–2029. Đội ngũ sĩ quan hàng hải và kỹ sư thiết kế tàu thủy do trường đào tạo đang làm chủ tàu siêu lớn và thiết kế theo tiêu chuẩn Nhật Bản, giữ vị trí then chốt ở các tập đoàn cảng biển, vận tải biển, đóng tàu, dầu khí, điện gió ngoài khơi, logistics, xây dựng cảng và thềm lục địa, môi trường biển. Chính những thành tựu này là cơ sở để Thủ tướng ban hành Quyết định 1901, nhưng cũng là lý do trường không được phép tự hài lòng. Trạng thái trường trọng điểm quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế đòi hỏi nhà trường phải coi bốn nhóm yêu cầu của Bộ Xây dựng là lộ trình cải tổ kỹ lưỡng, chứ không phải danh sách công việc mang tính hình thức. Nếu làm được, đại học hàng hải Việt Nam không chỉ đáp ứng đề án đến 2030, tầm nhìn 2045, mà còn trở thành “xương sống” nhân lực và công nghệ cho chiến lược quốc gia biển mạnh.







