Chi phí vận tải có thể ăn mòn lợi nhuận mỏng
Chi phí logistics là tổng chi phí đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay khách hàng, bao gồm vận chuyển, lưu kho, xử lý và các thủ tục liên quan. Với doanh nghiệp xuất khẩu có biên lợi nhuận thấp, mỗi khâu chậm trễ hay kém hiệu quả đều có thể làm suy yếu khả năng cạnh tranh về giá. Báo cáo Logistics Việt Nam ước tính chi phí logistics tương đương khoảng 16–17%, còn vận chuyển nội địa từ nhà máy đến cảng chiếm khoảng 9–10% hoạt động xuất nhập khẩu của ngành dệt may. Đây không phải khoản phụ có thể xem nhẹ: ngành dệt may được mô tả là lĩnh vực “lấy công làm lãi”, nên tiết kiệm vận chuyển tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Khi đối thủ cạnh tranh bằng giá, doanh nghiệp không thể bù mãi chi phí vận tải bằng cách ép lợi nhuận.
Tăng hiệu quả không chỉ có nghĩa là thương lượng cước tốt hơn. Doanh nghiệp cần giảm lệ thuộc vào đường bộ bằng cách kết nối vận tải đường biển, đường sông và đường sắt, đồng thời phối hợp để tận dụng chiều xe chạy rỗng. Nếu các mắt xích vẫn vận hành rời rạc, khoản tiết kiệm ở một chặng có thể bị xóa sạch bởi thời gian chờ, chi phí lưu kho và việc phải vận chuyển vòng.

Cảng, hải quan và kho vận là những nút thắt phải xử lý
Lợi thế về năng suất sản xuất sẽ không đủ nếu hàng hóa mắc lại ở cảng, chờ xử lý hải quan hoặc phải đi xa để hoàn tất công đoạn sau thu hoạch. Đại diện ngành dệt may kiến nghị cải thiện thủ tục hải quan và mở rộng diện doanh nghiệp được hưởng chế độ ưu tiên; quản lý dựa trên mức độ rủi ro có thể giảm thời gian chờ và chi phí lưu kho đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt. Đây là hướng hợp lý hơn việc áp cùng một mức kiểm tra cho mọi lô hàng, miễn là cơ chế giám sát vẫn đủ chặt.
Nút thắt kho vận cũng cần cách tiếp cận theo mạng lưới, thay vì để từng doanh nghiệp tự đầu tư kho nhỏ có nguy cơ dư công suất trái mùa. Tình trạng thiếu dịch vụ hun trùng, chiếu xạ tại miền Bắc khiến một số hàng hóa phải chuyển vào miền Nam để xử lý, làm tăng thời gian và chi phí. Cảng biển, hải quan và kho vận vì thế không phải ba vấn đề riêng lẻ: cải thiện đồng bộ mới giúp rút ngắn hành trình và bảo vệ chất lượng hàng xuất khẩu.

Mở rộng thương mại đồng nghĩa rủi ro xuất khẩu lớn hơn
Quy mô giao thương tăng nhanh mở ra cơ hội, nhưng cũng khiến hàng hóa Việt Nam dễ lọt vào tầm ngắm của các cuộc điều tra phòng vệ thương mại. Tính đến giữa tháng 10/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 945,07 tỷ USD, tăng 31,4% so với cùng kỳ; nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu và cán cân lũy kế ở trạng thái nhập siêu. Những con số ấy cho thấy rủi ro xuất khẩu không còn là việc chỉ xử lý khi có thư yêu cầu từ thị trường nhập khẩu. Một số mặt hàng tăng mạnh hoặc nắm thị phần lớn đã được đưa vào danh sách cảnh báo, nhưng điều đó không đồng nghĩa hàng hóa vi phạm hay bị cấm xuất khẩu.
Doanh nghiệp cần chứng minh hàng có nguồn gốc rõ ràng, xuất xứ phù hợp và được sản xuất thực chất tại Việt Nam; đồng thời phải minh bạch giá bán, chi phí và chuỗi cung ứng. Hồ sơ mua nguyên liệu, sản xuất, gia công và xuất khẩu cần đầy đủ, nhất quán để có thể giải trình khi bị xác minh. Lưu chứng từ như một việc cuối kỳ là quá muộn: khi dữ liệu giữa các khâu không khớp, năng lực tiếp cận thị trường có thể bị tổn hại ngay cả khi doanh nghiệp tin rằng mình làm đúng.

Đưa quản trị rủi ro vào từng đơn hàng
Quản trị đơn hàng cần bao gồm cả chi phí giao nhận lẫn tính hợp lệ của hồ sơ xuất nhập khẩu. Trước khi chốt đơn, doanh nghiệp nên xác định nguồn nguyên liệu, đường đi của hàng, chứng từ phải có, thời gian xử lý tại cảng và phương án dự phòng nếu phát sinh kiểm tra. Trong quá trình thực hiện, dữ liệu mua hàng, sản xuất, gia công và xuất khẩu cần được cập nhật thống nhất, thay vì ghép nối vội vàng khi cơ quan chức năng yêu cầu.
Một thời hạn vận hành cũng cần được tính vào kế hoạch: doanh nghiệp đã đăng ký tài khoản trên Hệ thống đăng ký người sử dụng VNACCS phải rà soát, cập nhật và làm sạch dữ liệu trước ngày 31/12/2026; tài khoản chưa hoàn tất có thể bị khóa tự động từ ngày 1/1/2027. Khóa tài khoản có thể làm gián đoạn thông quan và kéo theo chi phí lưu kho, lưu bãi. Vì vậy, kiểm tra dữ liệu không phải việc hành chính tách rời, mà là một phần của kế hoạch giao nhận và kiểm soát rủi ro cho từng lô hàng.
Định hướng dài hạn cũng đặt áp lực cải thiện lên toàn chuỗi: mục tiêu đến năm 2035 là đưa chi phí logistics xuống tương đương 12–15% GDP và đưa Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia, vùng lãnh thổ đứng đầu về chỉ số hiệu quả logistics. Để tiến gần mục tiêu đó, doanh nghiệp không thể chỉ chờ hạ tầng tốt hơn; họ cần tổ chức lại cách vận chuyển và biến tuân thủ chứng từ thành một quy trình thường nhật.
Kết luận, sức cạnh tranh xuất khẩu được quyết định không chỉ ở giá thành tại nhà máy mà còn ở chi phí đưa hàng ra thị trường và khả năng chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Tháo gỡ nút thắt cảng, hải quan, kho vận phải đi cùng quản trị hồ sơ chặt chẽ trong từng đơn hàng. Nếu xem hai việc này là ưu tiên song song, doanh nghiệp mới có thể mở rộng thị trường mà không để lợi nhuận và năng lực giao hàng bị bào mòn.







