FSC và rừng gỗ lớn: Hai hướng đi, một mục tiêu
Lâm nghiệp bền vững là cách tổ chức trồng, chăm sóc và khai thác rừng nhằm duy trì nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường và tạo sinh kế lâu dài, đồng thời đáp ứng yêu cầu về chất lượng và nguồn gốc gỗ. Hai hướng đi đang được quan tâm là chứng nhận FSC và phát triển rừng gỗ lớn: một hướng củng cố tính minh bạch, hướng kia nâng chất lượng thân gỗ.
Không nên xem đây là lựa chọn thay thế nhau. Chứng chỉ quản lý rừng xác nhận quy trình và nguồn gốc theo tiêu chuẩn; kéo dài chu kỳ sinh trưởng có thể tạo ra gỗ kích thước, chất lượng cao hơn, phù hợp với chế biến sâu thay vì chỉ làm dăm hoặc viên nén. Muốn nâng giá trị lâm sản, vùng nguyên liệu cần kết hợp cả hai cách làm và gắn với nơi tiêu thụ.
Áp lực chuyển đổi đã rõ: chu kỳ ngắn khiến người trồng rừng phụ thuộc vào giá nguyên liệu và đầu ra, trong khi thị trường đòi hỏi nguồn gốc gỗ ngày càng minh bạch. Nhưng chứng nhận hay cây gỗ lớn tự thân chưa đảm bảo người trồng được hưởng phần giá trị cao hơn.
Như Thanh cho thấy lợi ích của rừng FSC
Tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Thanh, hơn 3.700 ha rừng trồng sản xuất được cấp chứng chỉ FSC tính đến tháng 10/2026; trong đó 3.584 ha do ban quản lý, phần còn lại thuộc đất của hộ dân. Để triển khai, đơn vị tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác, hướng dẫn chọn giống, phòng cháy rừng và tuân thủ quy định về thuốc bảo vệ thực vật. Đây là điểm mạnh của mô hình: chứng nhận đi cùng thay đổi cách làm, không chỉ là một giấy tờ đầu ra.
Gia đình ông Lê Anh Tuấn ở xã Như Thanh chuyển toàn bộ 15 ha keo sang trồng theo FSC sau thời gian gặp tình trạng trồng tự phát, năng suất thấp và bị thương lái ép giá. Với chu kỳ khai thác 5 năm, mô hình đem lại lợi nhuận 90 triệu đồng/ha sau khi trừ chi phí, cao hơn 20 triệu đồng/ha so với cách làm truyền thống.
Kết quả này đáng chú ý, nhưng không nên suy rộng thành cam kết lợi nhuận cho mọi hộ. FSC mở cơ hội vào chuỗi cung ứng yêu cầu nguồn gốc rõ ràng và khuyến khích bảo vệ đất, nước, đa dạng sinh học; hiệu quả thực tế vẫn phụ thuộc kỹ thuật, điều kiện rừng và khả năng bán gỗ.
Đức Lương và Phú Thọ chuyển từ sản lượng sang chất lượng
Đức Lương đang mở rộng cả rừng gỗ lớn lẫn diện tích có chứng nhận: xã đã triển khai trồng trên 100 ha rừng gỗ lớn và có hơn 1.900 ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC. Với khoảng 3.500 ha rừng, trong đó 2.800 ha là rừng sản xuất, địa phương có nền nguyên liệu và các cơ sở chế biến tại chỗ. Một hộ trồng keo tai tượng cho biết chu kỳ 6–7 năm có thể thu khoảng 100 triệu đồng/ha; đây là nguồn thu giúp gia đình trang trải cuộc sống và đầu tư cho con cái.
Phú Thọ cũng gắn phát triển rừng gỗ lớn với chứng chỉ, liên kết tiêu thụ và mục tiêu cải thiện sinh kế. Tại khu vực Lạc Sơn trước đây, 8 xã có hơn 6.100 ha rừng được cấp FSC. Chuyển từ chu kỳ ngắn sang rừng gỗ lớn có thể mở nguồn cung cho chế biến gỗ chất lượng cao, thay vì tập trung vào dăm và viên nén; đổi lại, người trồng phải chờ lâu hơn và chịu rủi ro trong thời gian cây sinh trưởng.
Hướng đi của hai địa phương cho thấy FSC và rừng gỗ lớn bổ trợ nhau, nhưng đòi hỏi tổ chức sản xuất khác nhau. FSC cần quy trình được kiểm soát và ghi nhận; gỗ lớn cần vốn, kỹ thuật lâm sinh và khả năng chờ đến kỳ khai thác. Thiếu liên kết tiêu thụ, cả hai đều khó chuyển thành thu nhập ổn định.
Chứng chỉ chưa đủ nếu chuỗi giá trị còn đứt đoạn
Điểm nghẽn không nằm ở việc thiếu thêm một khẩu hiệu về trồng rừng bền vững, mà ở khoảng cách giữa nguyên liệu đạt chuẩn và thị trường trả giá tương xứng. FSC giúp gỗ đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc, nhưng không tự tạo nhà máy phù hợp, hợp đồng dài hạn hay mức giá ổn định cho hộ trồng rừng. Với rừng gỗ lớn, bài toán còn nặng hơn vì người dân phải chờ nhiều năm để cây đạt đường kính và chất lượng tốt.
Vì vậy, mở rộng diện tích chứng nhận cần đi cùng kế hoạch thu mua, chế biến và chia sẻ rủi ro trong thời gian chờ khai thác. Ở Như Thanh, giai đoạn 2021–2025 ban quản lý trồng hơn 1.477 ha rừng; trong 10 tháng đầu năm 2026, đơn vị trồng thêm hơn 500 ha, chủ yếu là giống keo chất lượng cao. Đức Lương dự kiến tiếp tục phối hợp đơn vị chuyên môn để hỗ trợ người dân phát triển rừng gỗ lớn và nhân rộng mô hình phù hợp.
Kết luận, chứng chỉ quản lý rừng là tấm vé về nguồn gốc, còn rừng gỗ lớn là cách nâng chất lượng nguyên liệu; cả hai chỉ tạo giá trị bền vững khi nối được với chế biến và thị trường ổn định. Chính sách nên ưu tiên xây dựng chuỗi tiêu thụ lâu dài để lợi ích từ gỗ đạt chuẩn đến được người trồng, thay vì dừng ở con số diện tích được chứng nhận.






