Xuất khẩu thủy sản Việt tăng nhưng Mỹ trở thành biến số khó lường
Xuất khẩu thủy sản Việt là hoạt động đưa các sản phẩm tôm, cá, cá pangasius và hải sản chế biến ra thị trường quốc tế, trong đó Mỹ được xem là thị trường có giá trị cao, ảnh hưởng mạnh đến doanh thu và định hướng chiến lược của toàn ngành trong những tháng cuối năm. Xuất khẩu thủy sản Việt vẫn duy trì đà tăng trong 8 tháng đầu năm, với kim ngạch vượt ngưỡng 8 tỷ USD và tốc độ tăng hai chữ số so với cùng kỳ, cho thấy sức cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng mở rộng ở nhiều thị trường mới. Nhưng đà tăng này không phản ánh đầy đủ rủi ro, bởi thị trường Mỹ – vốn thường mang lại giá trị cao – lại đang đi ngược xu hướng, khiến bức tranh chung trở nên mong manh hơn nhiều so với con số lũy kế lạc quan.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, tháng 8, xuất khẩu thủy sản tăng hơn 6% so với cùng kỳ trong khi lũy kế 8 tháng tăng gần 12%. Tuy vậy, kim ngạch sang thị trường Mỹ lại giảm, đặc biệt tôm và cá pangasius đều giảm hai chữ số, cho thấy dấu hiệu rõ ràng của sức ép kép. Điều này đặt ra một nghịch lý: doanh nghiệp vẫn bận rộn vì đơn hàng sang Trung Quốc, CPTPP hay ASEAN, nhưng lại phải thấp thỏm với biến động tại một thị trường vốn là trụ cột. Nếu không nhìn thẳng vào biến số Mỹ, mọi lạc quan về tăng trưởng xuất khẩu thủy sản Việt trong năm nay đều có thể bị đảo chiều rất nhanh.

Thuế quan Mỹ: từ cộng dồn chi phí đến nguy cơ mất lợi thế giá
Điểm mấu chốt khiến xuất khẩu thủy sản Việt sang Mỹ chao đảo là thuế quan Mỹ ngày càng chồng lớp và thiên về bảo hộ. Sau 150 ngày áp dụng phụ thu nhập khẩu 10% từ cuối tháng 2, hàng Việt vào Mỹ phải chịu thêm mức thuế Section 301 là 12,5% kể từ ngày 24/7, cộng dồn với thuế thông thường và nhiều trường hợp còn phải gánh thêm thuế chống bán phá giá. Trong ngành mà từng xu chênh lệch cũng đủ khiến nhà nhập khẩu đổi nhà cung cấp, thêm một tầng thuế là thêm một bước thụt lùi trong cạnh tranh giá.
Điều đáng nói là mức thuế Section 301 áp lên nhiều mặt hàng thủy sản Việt cao hơn so với một số đối thủ trực tiếp như Ấn Độ, Ecuador hay Indonesia. Khoảng chênh này không chỉ tăng chi phí vào cửa Mỹ mà còn làm lệch tương quan giá giữa các nguồn cung. Doanh nghiệp Việt hoặc phải cắt biên lợi nhuận để giữ được đơn hàng, hoặc chấp nhận để khách chuyển sang nguồn cung rẻ hơn. Cá pangasius đang là ví dụ rõ nhất. Ngoài thuế Section 301, các doanh nghiệp còn đối mặt với thuế chống bán phá giá theo kết quả rà soát POR21, với mức tính theo kg cao hơn nhiều so với kỳ vọng ban đầu. Thuế quan không còn là rủi ro pháp lý xa vời, mà là chi phí hiện hữu bóp nghẹt lợi thế giá vốn là điểm mạnh của xuất khẩu thủy sản Việt.

Cá pangasius chịu đòn nặng từ sức mua yếu và chính sách bảo hộ
Nếu thuế quan là cú đánh từ phía chính sách thì sức mua suy yếu tại Mỹ lại là nhát cắt từ phía thị trường. Doanh số thủy sản tươi và đông lạnh tại Mỹ trong tháng 8 giảm hơn 7% về lượng, tồn kho vẫn cao, khiến nhà nhập khẩu dè dặt với đơn hàng mới, rút ngắn thời hạn hợp đồng và ép giá mạnh hơn. Trong bối cảnh đó, cá pangasius Việt – vốn phụ thuộc nhiều vào phân khúc trung cấp và bán lẻ – trở thành nhóm chịu tác động nặng. Khi người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, nhà bán lẻ khó tăng giá, còn nhà nhập khẩu lại càng không chấp nhận chia sẻ phần thuế tăng thêm.
Kết quả là sức ép dồn ngược trở lại doanh nghiệp Việt. Xuất khẩu cá tra sang Mỹ 7–8 tháng liên tiếp ghi nhận mức giảm, với riêng tháng 8 sụt hơn một nửa so với cùng kỳ. Đáng lo hơn, một đề xuất luật tại Mỹ còn tính áp hạn ngạch hàng năm đối với cá da trơn nhập khẩu từ Việt Nam, kèm mức thuế cao nếu vượt ngưỡng. Điều này biến cá pangasius thành “điểm nóng” trong căng thẳng thương mại, nơi thuế quan, hạn ngạch và sức mua yếu cùng hội tụ. Nếu doanh nghiệp chấp nhận giảm giá sâu để giữ thị phần, phần chi phí tăng không có chỗ nào khác ngoài co lại lợi nhuận và cắt giảm đầu tư tái đàn, cơ cấu lại sản xuất.

Hàng rào kỹ thuật và phép thử sống còn với chiến lược thị trường
Thuế mới chỉ là một nửa câu chuyện; phần còn lại là hàng rào kỹ thuật ngày càng ngặt nghèo. Cửa vào thị trường Mỹ ngày càng phụ thuộc vào khả năng chứng minh sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, khai thác và sản xuất hợp pháp, không dính lao động cưỡng bức và tuân thủ an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc. Một bản ghi nhớ gần đây của Tổng thống Mỹ về điều tra theo Mục 301 đối với hàng hóa có yếu tố lao động cưỡng bức cho thấy rủi ro có thể xuất hiện ở bất kỳ khâu nào của chuỗi cung ứng – từ nguyên liệu, bán thành phẩm cho tới công đoạn gia công.
Với thủy sản khai thác, thiếu giấy xác nhận nguyên liệu hợp lệ, dữ liệu sản lượng, chủng loại, tàu cá, nhật ký hành trình đầy đủ có thể khiến hồ sơ bị ách tắc, giao hàng chậm và phát sinh chi phí, thậm chí ảnh hưởng khả năng thực hiện hợp đồng. Ngành thủy sản Việt vốn có chuỗi cung ứng nhiều tầng trung gian, nên yêu cầu kiểm soát từ đầu vào đồng nghĩa với phải đầu tư mạnh cho hệ thống dữ liệu, kiểm soát nhà cung cấp và nhân sự phụ trách hồ sơ. Đó là chi phí tuân thủ không hiện trên hóa đơn thuế, nhưng nếu không chủ động gánh lấy, doanh nghiệp có thể mất luôn quyền tiếp cận thị trường Mỹ – nơi vẫn là thước đo uy tín cho sản phẩm thủy sản trên phạm vi toàn cầu.

Thị trường Mỹ định hình kết quả cuối năm: chấp nhận chơi dài hay co lại?
Diễn biến trái chiều giữa bức tranh tăng trưởng chung và mức suy giảm tại thị trường Mỹ cho thấy đây đang là biến số lớn nhất với xuất khẩu thủy sản Việt trong quý 4. Không thị trường nào có thể ngay lập tức thay thế vai trò về giá trị và cơ cấu nhu cầu mà Mỹ nắm giữ đối với tôm và cá pangasius, cho dù Trung Quốc – Hồng Kông, CPTPP hay ASEAN đều tăng trưởng ấn tượng. Câu hỏi đặt ra là ngành sẽ chọn cách chấp nhận biên lợi nhuận mỏng để giữ chỗ, hay chủ động co lại, chuyển lực sang các thị trường khác.
Dù lựa chọn thế nào, chiến lược cho những tháng cuối năm và xa hơn không thể dừng ở phản ứng ngắn hạn với thuế quan Mỹ. Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt cần coi Mỹ như một phép thử về năng lực thích ứng toàn diện: từ cơ cấu sản phẩm phù hợp sức mua, quản trị chi phí trong bối cảnh thuế chồng thuế, đến đầu tư bài bản vào truy xuất nguồn gốc và tuân thủ xã hội. Nếu vượt qua được giai đoạn này, ngành không chỉ giữ được chỗ đứng tại thị trường Mỹ mà còn xây dựng nền tảng cạnh tranh cao hơn ở mọi thị trường khác. Nếu thất bại, chi phí không chỉ là sụt giảm kim ngạch trong một vài quý, mà là nguy cơ để mất một “sân chơi chuẩn mực” mà nhiều năm qua thủy sản Việt đã rất khó khăn mới giành được.






