Tăng trưởng bề nổi, bất ổn bề sâu: bức tranh trái chiều của thủy sản Việt Nam
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam là hoạt động đưa các sản phẩm tôm, cá tra và hải sản khai thác ra thị trường quốc tế, dựa trên lợi thế nuôi trồng và chế biến trong nước, nhưng đang ngày càng chịu tác động mạnh từ biến động chính sách, thuế quan và yêu cầu kỹ thuật của các thị trường lớn, đặc biệt là Mỹ. Đằng sau những con số tăng trưởng 8 tháng đầu năm, câu chuyện đáng nói nhất là chất lượng của tăng trưởng đang bị thách thức. Xuất khẩu tôm Việt Nam tăng 12% trong 8 tháng, nhưng đà tăng rõ ràng chậm lại khi thị trường Mỹ và EU cùng suy giảm. Đồng thời, tổng xuất khẩu thủy sản tăng gần 12% nhưng thị trường Mỹ lại đi ngược chiều, cho thấy rủi ro phụ thuộc quá lớn vào một điểm đến có độ nhạy cao về chính sách và nhu cầu tiêu dùng.

Áp lực kép từ Mỹ: thuế cao hơn đối thủ và sức mua suy yếu
Nếu phải chọn một biến số có thể xoay trục kết quả xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong những tháng cuối năm, đó chính là thị trường Mỹ. Từ cuối tháng 7, nhiều mặt hàng vào Mỹ chịu thêm thuế Section 301 ở mức được đánh giá là cao hơn so với một số đối thủ trực tiếp như Ấn Độ, Ecuador hay Indonesia. Khoản thuế này cộng dồn với thuế thông thường, thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp, biến chi phí nhập khẩu từ Việt Nam trở nên kém cạnh tranh so với nguồn cung khác. Đáng nói hơn, sức mua tại Mỹ suy yếu, doanh số thủy sản tươi và đông lạnh giảm trên 7%, tồn kho cao khiến nhà nhập khẩu thắt chặt hợp đồng và ép giá mạnh. Doanh nghiệp Việt đứng giữa hai gọng kìm: thuế tăng, giá bán bị kéo xuống, buộc phải hy sinh biên lợi nhuận nếu muốn giữ đơn hàng và thị phần. Đây không còn là khó khăn ngắn hạn mà là cuộc thử sức về khả năng chịu đựng và thích ứng.

Tôm và cá tra: nhóm hàng chủ lực chịu sức ép trực diện
Xuất khẩu tôm Việt Nam đạt kết quả khả quan trên giấy tờ nhưng lại đang đối diện nguy cơ hụt hơi. Trong 8 tháng, kim ngạch tăng 12%, các dòng tôm chân trắng, tôm sú và tôm loại khác đều tăng trưởng. Tuy nhiên, xuất khẩu sang Mỹ giảm 11,7%, mỗi tháng gần đây đều ghi nhận mức giảm hai chữ số. EU cũng giảm, khiến áp lực xuất khẩu tôm dồn lên các thị trường châu Á. Không chỉ tôm, cá tra còn bị đánh trực diện bởi kết quả rà soát POR21 với mức thuế chống bán phá giá cao hơn, khiến khả năng chào giá vào Mỹ yếu đi rõ rệt. Kim ngạch cá tra sang Mỹ tháng 8 giảm hơn một nửa, tích lũy 8 tháng vẫn suy giảm. Khi cả hai nhóm hàng chủ lực đều bị siết, mục tiêu duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu tôm Việt Nam và rộng hơn là thủy sản Việt Nam 2026 không còn là chuyện “chạy số” mà là bài toán sống còn của toàn chuỗi từ nuôi trồng đến chế biến.

Hàng rào kỹ thuật và chi phí tuân thủ: bài kiểm tra về năng lực quản trị chuỗi
Thuế chỉ là một nửa vấn đề; phần còn lại là hàng loạt yêu cầu kỹ thuật ngày càng chặt. Thị trường Mỹ thủy sản đòi hỏi doanh nghiệp phải chứng minh nguồn gốc hợp pháp, tuân thủ MMPA, kiểm soát lao động cưỡng bức, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc ở mức chi tiết. Bản ghi nhớ ngày 23/7 của Tổng thống Mỹ về điều tra hàng hóa có yếu tố lao động cưỡng bức cho thấy rủi ro có thể nằm ở bất kỳ khâu nào trong chuỗi cung ứng, từ nguyên liệu tới bán thành phẩm. Đối với hải sản khai thác, thiếu giấy xác nhận nguyên liệu hợp lệ, dữ liệu nhật ký tàu, sản lượng, hành trình… không đầy đủ là đủ để hồ sơ bị ách tắc, giao hàng chậm, tăng chi phí và làm suy yếu năng lực thực hiện hợp đồng. Điều đáng chú ý là những yêu cầu này không tạo ra khoản thuế trực tiếp nhưng lại làm tăng chi phí tuân thủ, buộc doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống dữ liệu, kiểm soát nhà cung cấp và nhân sự chuyên trách hồ sơ. Ai không kịp nâng cấp quản trị chuỗi sẽ bị loại khỏi cuộc chơi trước khi kịp tranh luận về giá.

Giữ đà tăng trưởng: không chạy theo kim ngạch, phải tái tính từng đơn hàng
Trong bối cảnh áp lực kép từ Mỹ và sức mua suy giảm ở EU, giải pháp của doanh nghiệp không thể là cố kéo kim ngạch bằng mọi giá. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, mục tiêu xuất khẩu khoảng 12 tỷ USD vẫn có thể đạt nếu bốn tháng cuối năm duy trì bình quân gần 1 tỷ USD mỗi tháng, nhưng doanh nghiệp được khuyến nghị phải “tính lại hiệu quả từng đơn hàng” thay vì chạy theo số lượng. Đa dạng hóa thị trường sang Trung Quốc – Hong Kong, ASEAN, EU, Nhật Bản hay các nước CPTPP là hướng đi cần thiết, nhưng nên được xem là chiến lược giảm phụ thuộc chứ không ảo tưởng rằng có thể ngay lập tức bù đắp toàn bộ phần thiếu hụt từ Mỹ. Với tôm, doanh nghiệp cần chuẩn bị kịch bản theo kết quả rà soát thuế, tránh tích trữ khi đầu ra chưa chắc chắn. Với cá tra và hải sản khai thác, mở rộng phân khúc và siết quản lý nguồn nguyên liệu là yếu tố bắt buộc. Kết luận không dễ nuốt nhưng rõ ràng: ai chấp nhận hi sinh biên lợi nhuận để giữ thị trường, song song đầu tư vào tuân thủ và đa dạng hóa, người đó sẽ trụ vững sau cơn sóng chính sách từ Mỹ.






