Chạy đua tiến độ không thể chỉ dựa vào tăng ca
Chiến lược tăng tốc thi công cao tốc là cách phối hợp nhân lực, máy móc, mặt bằng, vật liệu và thủ tục vận hành để đưa từng đoạn tuyến vào sử dụng đúng thời điểm mà vẫn giữ an toàn, chất lượng. Với các dự án giao thông trọng điểm, mục tiêu mở đường dịp Tết tạo động lực rõ rệt, nhưng cũng khiến mọi điểm nghẽn dễ biến thành rủi ro dây chuyền. Trên tuyến Đồng Đăng – Trà Lĩnh dài hơn 121 km, doanh nghiệp dự án huy động gần 900 máy móc, thiết bị và hơn 2.000 nhân sự; giá trị thực hiện giai đoạn một đạt xấp xỉ 80%. Toàn công trường có 132 mũi thi công, hơn 2.000 kỹ sư, công nhân làm việc liên tục theo chế độ 3 ca, 4 kíp. Quy mô huy động cho thấy quyết tâm, nhưng tốc độ thực tế còn phụ thuộc vào việc cấp vật liệu và bàn giao các diện tích phát sinh. Tăng ca chỉ phát huy tác dụng khi nguồn lực được đưa đúng nơi đang cản tiến độ.
Đông Khê: Mốc Tết buộc tiến độ phải đi cùng an toàn
Đoạn Tân Thanh – Đông Khê dài khoảng 62 km được hướng tới khai thác miễn phí dịp Tết Nguyên đán 2027, một lợi ích trực tiếp cho người dân nhưng cũng là thời hạn rất sát. Doanh nghiệp dự án đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành đoạn Đồng Đăng – Đông Khê vào ngày 31/12/2026, sau đó phối hợp các cơ quan chức năng để vận hành thử trước, trong và sau Tết. Đây là kế hoạch đáng ủng hộ, song không nên đánh đổi chất lượng để kịp ngày mở đường. Rủi ro lớn nằm ở vật liệu: nguồn đá cho một số lớp bê tông nhựa, nhất là lớp tạo nhám, có lúc thiếu cục bộ; một số gói thầu đến tháng 10 vẫn chậm kế hoạch. Phần mặt bằng bổ sung và các hạng mục đường gom, đường hoàn trả cũng cần được xử lý đồng bộ. Doanh nghiệp kiến nghị hoàn tất giải phóng mặt bằng bổ sung, tháo gỡ thủ tục mỏ đá và bổ sung hơn 7.714 tỷ đồng vốn ngân sách còn thiếu giai đoạn 2026–2028.

Vinh – Thanh Thủy: Mặt bằng là bài toán mở đường
Cao tốc Vinh – Thanh Thủy dài khoảng 60 km, tổng mức đầu tư gần 24.000 tỷ đồng, được thiết kế 4 làn xe hoàn chỉnh và kết nối cửa khẩu Thanh Thủy với Lào. Tuyến có ý nghĩa liên kết xuyên biên giới, nhưng tiến độ xây dựng trước mắt phụ thuộc vào việc giải quyết mặt bằng. Riêng xã Nam Đàn, dự án ảnh hưởng 689 hộ dân và 1.283 thửa đất; sau quá trình vận động, địa phương tổ chức cưỡng chế các đợt tiếp theo đối với 13 hộ chưa bàn giao đất ngày 22/10. Ở công trường, một liên danh đã huy động hơn 400 nhân sự, hàng trăm thiết bị và 15 mũi thi công tại gói thầu xây lắp 01. Hầm Đại Huệ là hạng mục phức tạp do địa chất nứt nẻ, đòi hỏi lựa chọn phương án đào và gia cố theo từng vị trí. Nguồn cung cũng cần được mở rộng: dự án dự kiến cần 9,9 triệu m³ đất san lấp cùng khối lượng lớn đá, cát và cấp phối. Nghệ An đang tính nâng công suất mỏ và bổ sung nguồn khai thác; đây là khâu cần theo sát để máy móc không phải chờ vật liệu.
Quản trị rủi ro để hạn chót không thành áp lực hình thức
Bài học chung của thi công cao tốc Việt Nam là không thể quản lý tiến độ bằng một con số ngày thông xe. Cần theo dõi từng nút thắt: mặt bằng còn thiếu, công suất mỏ, luồng vận chuyển, chất lượng liên kết giữa phần đường cũ và phần mở rộng, cùng điều kiện tổ chức giao thông. Với vật liệu, việc đối chiếu dữ liệu qua trạm cân, camera, phiếu đo thùng xe và hệ thống chấm chuyến giúp kiểm soát khối lượng từ mỏ đến công trường. Cách làm này đáng nhân rộng vì vừa hạn chế gián đoạn vừa tăng khả năng phát hiện sai lệch. Tại Đồng Đăng – Đông Khê, các cơ quan dự kiến lấy ý kiến về phương án giao thông từ đầu tháng 11 và hoàn thành chuẩn bị trong tháng 12/2026. Đoạn từ Km61+700 đến Km93 đặt mục tiêu khai thác ngày 30/4/2027. Trong khi đó, cao tốc Vinh – Thanh Thủy dự kiến hoàn thành năm 2029. Những mốc này cần được gắn với đánh giá rủi ro và phân bổ nguồn lực định kỳ. Mở được đường dịp Tết là kết quả thiết thực; mở đường an toàn, vận hành có chuẩn bị mới là thước đo thành công.






